chương I, Điều 1 của Hiến pháp 1946, đã khẳng định một cách rõ ràng quyền lực của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 1946 tuyên bố: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” (Điều 22), “giải quyết mọi 11 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. vấn đề chung cho toàn quốc” (Điều 23).
Tuyên bố đó đã thể hiện rõ rệt vai trò chủ thể của nhân dân đối với chế độ. Đến Hiến pháp 1959, là người đứng đầu ban soạn thảo, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân một cách cụ thể với những chế định đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân trong thực tiễn. Điều 4 Hiến pháp 1959 ghi rõ: Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân [54, tr.
Khẳng định vị trí là chủ và làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp và pháp luật là sự đảm bảo đầu tiên cho việc thực hành dân chủ trong lĩnh vực chính trị ở nước ta – một nước chưa trải qua nền dân chủ tư sản, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, Hồ Chí Minh đã thiết lập trong thực tiễn nền dân chủ qua việc từng bước xây dựng hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân, trong đó căn bản là thiết lập nhà nước dân chủ nhân dân và vận hành nó trong thực tiễn. Theo Người, dân chủ trong chính trị là xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân có nhiệm vụ thực hiện và phát triển nền dân chủ, tạo ra những điều kiện đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với cơ quan và cán bộ viên chức nhà nước, mặt khác nó có chức năng thực hiện chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Trên đại thể là xác định 3 mặt cơ bản của vấn đề nhà nước: Về tính chất nhà nước đó là của dân.
Về tổ chức nhà nước đó do dân tổ chức ra. Về mục tiêu và phương thức hoạt động của nhà nước đó là vì dân. Điều này cũng đồng nghĩa với luận điểm “chính quyền dân chủ là chính quyền do người dân làm chủ” [33, tr.365] mà Người đã nhiều lần đưa ra để so sánh nhà nước dân chủ của ta với nhà nước dân chủ tư sản. 12 Footer Page 20 of 107.
Header Page 21 of 107. Dân làm chủ nhà nước còn thể hiện ở chỗ giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do dân bầu ra và cả các công chức nhà nước. Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan nhà nước “định kỳ báo cáo công việc trước dân” vì “nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính Phủ”. Nhân dân lại có nhiệm vụ “giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó” [34, tr.
Qua kiểm tra, giám sát nếu dân thấy: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa” [33, tr. Thậm chí: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” [32, tr. Vì “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân” [36, tr. Làm như thế là để xác định “địa vị cao nhất là dân”, “tất cả quyền lực đều là của nhân dân”, đồng thời để đảm bảo sự trong sạch cho những đại biểu của dân trong các cơ quan nhà nước.
Trong chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ là làm đầy tớ để gánh vác việc chung cho dân. “Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền không phải làm qua cách mạng ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân” [35, tr.513], “lo trước thiên hạ” và “vui sau thiên hạ”. Làm đầy tớ của dân phải biết chăm lo cho dân, chăm lo cho chiến sĩ, cho bộ đội.
Bộ đội chưa có ăn cán bộ không được kêu đói, bộ đội chưa được nghỉ cán bộ không được kêu mệt vv… làm đầy tớ phải “khổ cán, hạnh cán, thực cán” [31, tr.153] tức là làm việc hết sức mình, làm việc có chất lượng, làm việc có hiệu quả, có năng suất. Hồ Chí Minh coi việc từ Chủ tịch nước đến giao thông viên đều ăn lương của dân, dân đóng thuế để trả lương cho cán bộ là một biểu hiện cụ thể của dân là chủ, cán bộ là công bộc của dân. Để địa vị làm chủ của nhân dân được thực hiện và xây dựng được nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực thi quyền lực nhân dân, phục vụ lợi ích của 13 Footer Page 21 of 107. Header Page 22 of 107.
nhân dân, phát triển quyền dân chủ và động viên nhân dân tích cực tham gia vào các công việc quản lý đất nước, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc xây dựng một nhà nước pháp quyền mà điều trọng yếu là phải xây dựng Hiến pháp, pháp luật thích hợp với sự phát triển của đất nước và tăng cường giáo dục việc thực hiện pháp luật trong toàn xã hội. Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau mới đảm bảo cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Vì vậy xây dựng một nền pháp chế XHCN, đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp 1959, đã ký lệnh công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác.
Một mặt chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nước ta mặt khác, Người hết sức chăm lo đưa pháp luật vào đời sống, tạo ra cơ chế đảm bảo cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đó trong các cơ quan Nhà nước và trong nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải tuân thủ pháp luật nhưng cũng đòi hỏi phải trừng trị rất nghiêm minh những kẻ phạm tội. Chính Người đã ký Quốc lệnh năm 1946 gồm 10 điều thưởng và 10 điều phạt, thể hiện tính nghiêm túc của kỷ cương, phép nước, không trừ một ai, người có công được thưởng, người có tội bị phạt. Trong quan điểm về dân chủ trong lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng việc xây dựng nhà nước pháp quyền mà còn xây dựng Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với toàn bộ đời sống xã hội và vai trò trọng yếu của Đảng trong hệ thống chính trị nước ta. Theo Người, để lãnh đạo chế độ dân chủ ở nước ta Đảng phải tuân thủ các 14 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107. nguyên tắc tổ chức và xây dựng đảng kiểu mới của Lênin, Đảng phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi và phải là tấm gương thực hành dân chủ.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới vấn đề tư cách, phẩm chất của đảng viên và cán bộ của Đảng mà trước hết là phải có đạo đức cách mạng để xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân. Cùng với việc chú trọng nâng cao phẩm chất và năng lực của Đảng trong vai trò lãnh đạo nền dân chủ, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau của nhân dân và coi đó là những lực lượng xây dựng và thúc đẩy sự phát triển nền dân chủ. Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế. Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế theo quan điểm của Hồ Chí Minh có nội dung rất phong phú.
Đó là một hệ thống những luận điểm về quyền dân chủ trong sở hữu tư liệu sản xuất, về quyền quản lý sản xuất, quản lý vật tư, ngân hàng, tài chính tín dụng. và về quyền phân phối sản xuất. Trong đó, Người đặc biệt chú ý đến quyền làm chủ trực tiếp về kinh tế của người lao động. Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế là nghiên cứu tư tưởng của Người về quyền làm chủ trực tiếp về kinh tế của nhân dân đối với quá trình sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm xã hội mà trước hết là quyền sở hữu, quyền làm chủ của nhân dân đối với tư liệu sản xuất.
Đối với nước nông nghiệp, hơn 90% là nông dân như Việt Nam, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, theo Hồ Chí Minh trước hết là dân cày có ruộng. “Làm cho hàng chục triệu dân cày thanh tư hữu, đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất” [34, tr. Thực hiện mục đích người cày có ruộng là nội dung dân chủ kinh tế quan trọng. Song, Hồ Chí Minh khẳng định “dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ” [34, tr.210] trong hệ thống các chính sách dân chủ kinh tế khác.
Như sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, việc bảo 15 Footer Page 23 of 107. Header Page 24 of 107. hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của các nhà tư sản. Điều này thể hiện rõ khi Hồ Chí Minh giải thích về đặc điểm của chế độ dân chủ mới mà nước ta xây dựng: Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân) B - Các hợp tác xã ( nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội) C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội) D - Tư bản của tư nhân E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh) [27, tr.