Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY HƯỚNG NGHIỆP NGHỀ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.Những nghiên cứu ở ngoài nước Lịch sử hình thành và phát triển giáo dục gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Từ xưa đến nay ít ai coi thường vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội nói chung, sự phát triển của con người nói riêng. Bởi vì, giáo dục là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững. Trong giáo dục đào tạo, dạy nghề và hướng nghề nghiệp trong tương lai cho học sinh luôn là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm.
Chương trình cải cách GD ở Cộng hòa Pháp đặc biệt khắc phục khuynh hướng quan niệm coi dạy nghề là một hoạt động đứng sau các môn học văn hóa. Họ xem đào tạo “tiền nghề nghiệp” là cơ sở quan trọng cho việc học tập liên tục về sau, góp phần chuẩn bị cho thanh niên bước vào cuộc sống lao động và phát triển nhân cách toàn diện. Năm 1848, ở Pháp đã xuất hiện quyển sách “HN chọn nghề” đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của công nghiệp tạo nên. Cuốn sách cũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ.
Về phương thức tổ chức cho HS PT thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ thì có các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, Gehart Duismamn… của Cộng hòa liên bang Đức. Ở Đức, hệ thống trường PT, TH luôn tiến hành phân loại HS bằng cách dựa vào khả năng học tập của từng em, từ đó định hướng theo nguyên tắc HN bị đi vào trường đào tạo nghề. Quan điểm phân loại HS của họ luôn dựa trên tinh thần giúp HS trở thành công nhân lành nghề song song với việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại HS khá giỏi để học lên lớp 13 thi tú tài toàn phần và thi vào ĐH…Vì thế, HS có thể học nghề ngay khi còn đang học PT, THCS. HS luôn được cung cấp một cách hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm ở bậc trung học.
Bên cạnh đó, sự cần thiết phải tổ chức cho HS thực tập thực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chứ c hoạt động lao động nghề nghiệp cho HS PT, các nhà khoa học sư phạm Đức Heinz 5 Frankiewiez, Bernd Rothe, B. Germer… đã có những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học sư ph ạm về tổ chức hoạt đ ộng dạy học lao động nghề nghiệp cho HS, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm GD Kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS. Còn những nghiên cứu về dạy hướng nghiệp nghề và lập nghiệp (GDHNLN - Career Education) ở các trường Úc thì tập trung vào 4 nhiệm vụ, có quan hệ mật thiết với nhau. - Học về bản thân trong mối quan hệ lao động.
- Học về thế giới nghề nghiệp. - Học về lập kế hoạch và ra quyết định HN, lập nghiệp. - Phát triển khả năng triển khai các quyết định về HN và tiến hành thay đổi công việc. Các nghiên cứu của các nhà khoa học này đi sâu vào ý tưởng có giá trị lớn cả về mặt chính trị lẫn kinh tế - xã hội.
Đó là “học tập kết hợp với lao động sản xuất” nhằm hình thành nhân cách toàn diện cho HS. Các nhà GD Xô Viết cũng đã xem bộ phận quan trọng nhất của GD Cộng sản chủ nghĩa là GD kỹ thuật tổng hợp trong nhà trường nước Nga. Phần GD quan trọng này có tác dụng giúp HS tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn liên quan đến những nguyên lý cơ bản của nền sản xuất hiện đại. Đồng thời, góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động và HN cho HS, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao động, xây dựng cơ sở cho việc đào tạo nghề về sau.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý GD Kỹ thuật tổng hợp của V.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải quán triệt nguyên lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối với học môn kỹ thuật.Krupxkaia trong cuốn sách “Hoàn thiện quá trình dạy học” đã chỉ ra rằng: “Mối liên hệ giữa học tập và lao động cần phải thực hiện sao cho học tập lý thuyết soi sáng con đường thực hành vào lao động sản xuất, còn lao động làm giàu kiến thức giúp nắm kiến thức một cách có ý thức”; “GV lao động cần trang bị cho HS những kiến thức kỹ năng, Kỹ thuật tổng hợp đại cương cần thiết cho người lao động các nghề khác nhau để lao động sản xuất”.
Chính vì vậy, qua các lần cải cách GD (1956 - 1966 và 1984 - 1986), GD Xô Viết luôn chú trọng tăng cường GD lao động với HN cho HS PT trên cơ sở gắn với lao động sản xuất.Những nghiên cứu ở trong nước Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng ta và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chỉ rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng nguồn lực chất lượng cao, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chính vì vậy mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục được xác định: trong giai đoạn này “tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội … Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, chú trọng nhân lực khoa học công nghệ cao, cán bộ quản lý giỏi… Phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy học”. Nhiệm vụ và mục tiêu của nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay là: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Trong đó, người thầy giáo đóng vai trò quyết định.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng như lịch sử phát triển của dân tộc đã khẳng định: có thầy giáo giỏi mới có học trò giỏi. Không phải ngẫu nhiên mà từ xưa cho đến ngày nay, các bậc cha mẹ luôn tìm chọn thầy cho con mình theo học một cách kỹ lưỡng. Dân tộc ta có những thầy giáo nổi tiếng như thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát… đã có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn HS theo học. Các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác giáo dục đều khẳng định: chất lượng của hoạt động học tập phụ thuộc một phần vào chất lượng hoạt động dạy của người thầy, vào trình độ tay nghề của người thầy.
Cho nên, chỉ với tay nghề có trình độ cao của GV thì mới nâng cao chất lượng hoạt động học tập của HS. Xác định vai trò dạy HN cho HS là nền tảng và định hướng phát triển nghề nghiệp tương lai, GDHN ở Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ XX được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, HN còn được thừa nhận là bước chuẩn bị tâm thế và năng lực nắm bắt thế giới nghề nghiệp trên cơ sở dựa vào sở thích, hiểu biết về bản thân và các yêu cầu của xã hội để từ đó HS phấn đấu học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. Vì lẽ đó, những nghiên cứu về dạy HN nghề của giai đoạn này đã được triển khai rất đa dạng.
7 Nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, nguyên nhân chính là công tác GDHN nghề chưa thật sự đáp ứng yêu cầu. Để tồn tại và phát triển, nước ta phải tiến hành CNH - HĐH định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp CNH - HĐH đặt ra hàng loạt yêu cầu đối với GD - ĐT nói chung, HN cho HS THCS nói riêng. Vì thế, trước hết phải thấy rõ đặc thù của sự nghiệp CNH - HĐH ở nước ta, những đặc thù này sẽ quy định phương hướng phát triển công tác HN.
Theo đó, HN sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH. Nghiên cứu về vấn đề này, có các nội dung nghiên cứu chủ yếu như: "đổi mới mạnh mẽ GD nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (Phạm Minh Hạc); thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên (Nguyễn Hữu Dũng); bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và công tác HN (Phạm Tất Dong); GD kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (Trần Khánh Đức);[7]. GD PT và HN - nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nước (Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX - 05, Đề tài KX-05 - 09); nghiên cứu các giải pháp QL GDHN THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020: Hồ Văn Thống. Luận văn thạc sỹ của Đỗ Ngọc Mỹ (2002), “Một số giải pháp phát triển đội ngũ GV trường Trung học Kỹ thuật Lý Tự Trọng TP Hồ Chí Minh”, nêu lên 6 giải pháp phát triển đội ngũ ở một trường Trung học kỹ thuật mà mục tiêu của nhà trường là đào tạo kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật bậc cao và bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật.
Luận văn xác định rõ đội ngũ GV là người thực hiện mục tiêu đào tạo và quyết định đến chất lượng đào tạo của nhà trường. Sáu giải pháp mà luận văn nêu ra phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của loại hình trường Trung học Kỹ thuật, nơi mà mục tiêu đào tạo nghề cho HS là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2003), “Một số giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Đại học bán công Tôn Đức Thắng”. Luận văn được nghiên cứu ở một trường đại học bán công, song mục tiêu nghiên cứu của đề tài đề cập tới vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đó cũng là mục tiêu đề tài chúng tôi nghiên cứu.