Chương 1: Một số lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ biên tập sách lý luận chính trị, pháp luật của Nhà xuất bản. Chương 2: Thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ biên tập sách lý luận chính trị, pháp luật của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật Chương 3: Quan điểm và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ biên tập sách lý luận chính trị, pháp luật của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trong thời gian đến. MOT SO LY LUAN VE CHAT LUQNG DOI NGU CAN BỘ BIÊN TẬP SÁCH LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ XUẤT BẢN 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE CHAT LƯỢNG NGUÒN NHÂN LỰC BIÊN TẬP SÁCH LÝ LUẬN CHÍNH TRI, PHAP LUAT 1.
Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thé chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. "Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nư- ớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng déng"[37]. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều SO VỚI các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ.
Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”[3I] Theo GS. Phạm Minh Hạc thì xét trên bình điện quốc gia hay địa phương, nguồn nhân lực được xác định là “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các 13 mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những. người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyền đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[32] Theo TS.
Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đảo tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn"[33] Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thẻ thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thẻ lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Khái niệm nguồn nhân lực (Human Resoures) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người".
Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong 14 độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: Nguôn nhân lực là nguôn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tô cầu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đâu, là nguồn lực cơ bản và nguôn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực đối với đội ngũ cán bộ biên tập sách lý luận chính trị, pháp luật Chất lượng nguồn nhân lực đối với đội ngũ cán bộ biên tập sách lý luận, chính trị, pháp luật là thể hiện tất cả các tiềm năng, khả năng của đội ngũ này trên sự đảm bảo yêu cầu, trên cơ sở phải đáp ứng trong hiện tại và tương lai về các lĩnh vực liên quan đến biên tập, đảm bảo mục tiêu quan điểm, thể hiện tính khoa học, nghệ thuật mà sản phẩm đó được khán giả chấp nhận và đón nhận một cách sâu sắc, để từ đó họ có suy nghĩ mới và hành động mới.
Khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực trong biên tập xuất bản, tức là nói đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường xuất bản trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chất lượng nguồn nhân lực biên tập phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ. Lượng tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm xuất bản phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lao động trí thức. Các nhà xuất bản sách lý luận chính trị, pháp luật muốn tăng khả năng xuất bản và phát hành của mình thị cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong từng xuất bản phẩm, từ đó cần có một định hướng phát triển, một chương trình riêng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 15 cho đội ngũ làm công tác biên tập sách lý luận chính trị, pháp luật để đáp ứng yêu cầu của hoạt động xuất bản trong tình hình mới.
ĐẶC ĐIÊM, VAI TRÒ CỦA SÁCH LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ, PHÁP LUẬT 1. Đặc điểm sách lý luận chính trị, pháp luật Một là, sách lý luận chính trị, pháp luật là loại sách vừa mang tính lý luận, vừa mang tính chính trị và pháp luật. Đặc tính lý luận: Đòi hỏi sách chứa đựng những nội dung khoa học có tính khái quát thực tiễn cao, có tính hệ thống và chặt chẽ cao. Lý luận được khai thác, đề cập trong sách lý luận chính trị không chỉ với tư cách là khoa học thuần túy mà còn là những vấn đề lý luận gắn liền với thực tiễn đấu tranh chính trị, làm cơ sở và là tiền đề cho đấu tranh chính trị.
Do đó, lý luận được đề cập trong loại sách này với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng. Đặc tính chính trị: Đòi hỏi nội dung của sách phải chứa đựng những vấn đề của khoa học chính trị, làm cơ sở cho. đấu tranh chính trị của giai cấp, của dân tộc. Đó chính là toàn bộ cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; là chiến lược hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội,.
nhằm giải quyết những mục tiêu chính trị, tạo cơ sở cho hoạt động chính trị của Đảng ta. Những vấn đề chính trị được đề cập trong loại sách này còn nhằm nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tự giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Hai là, tính chính trị trực tiếp. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nguyên tắc tính đảng trong sách lý luận chính trị đòi hỏi phải có ý nghĩa chính trị trực tiếp, phục vụ cho nhiệm vụ chính trị - xã hội của một giaicấp nhất định.
Sách lý luận chính trị, pháp luật ở nước ta là loại sách đề cập trực tiếp, chính điện các quan điểm, các vấn đề chính trị, các giải pháp chính trị phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Nó phản ánh lập trường chính trị, gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị, lợi ích của Đảng và nhân dân ta. 16 Tính chính trị trực tiếp của loại sách lý luận chính trị, pháp luật thể hiện ở chỗ nó phản ánh những vấn đề thực tiễn cách mạng đang đặt ra, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị, các cuộc vận động chính trị, quán triệt sâu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ cách mạng. Tính chất thời sự chính trị của loại sách này còn được thể hiện rõ trong tất cả các khâu và các quá trình: tổ chức biên tập nội dung, hình thức thê hiện, trong cách thức tuyên truyền, xuất bản, phát hành với mục đích nhằm giáo dục ý thức tự giác chính trị cho quần chúng.
Do đó, tiêu chuẩn thời sự chính trị là tiêu chuẩn hàng dau dé xem xét, danh giá vai trò, tác dụng của loại sách lý luận chính trị, pháp luật.