MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Hệ thống công trình thủy lợi, giao thông nông thôn là cơ sở hạ tầng quan trọng bậc nhất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng. Hạ tầng kỹ thuật thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, cấp nước dân sinh và các ngành kinh tế khác, đồng thời cũng góp phần phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Hàng nghìn dự án thủy lợi đã được thực hiện mỗi năm trên khắp mọi vùng miền cả nước, tập trung cho xây dựng các công trình mới và phần lớn nguồn kinh phí dành cho sửa chữa, duy tu và bảo dưỡng các công trình hiện có sau thời gian khai thác, vận hành.
Công tác tu sửa, bảo dưỡng và vận hành đúng quy trình các hệ thống đóng vai trò chính trong việc phát huy năng lực thiết kế của các công trình đã đưa vào vận hành khai thác. Bảo trì trước đây từ chỗ không được quan tâm, đánh giá đúng vai trò trong quản lý chất lượng công trình, thì từ năm 2014 trở đi khi Luật Xây dựng năm 2014 và Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng được ban hành thì bảo trì công trình xây dựng được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành. Muốn kéo dài tuổi thọ các công trình nhất thiết phải dựa trên cơ sở làm tốt công tác duy tu, bảo trì, bảo dưỡng. Nhưng thực tế thì công tác quản lý chất lượng công tác bảo trì hiện nay còn khá mới mẻ, việc vận dụng các cơ sở pháp lý vào thực tiễn của các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác sử dụng công trình còn nhiều bất cập, thiếu sự thống nhất dẫn đến hiệu quả bảo trì các công trình chưa cao.
Tại Ninh Thuận, đa phần các công trình thủy lợi (CTTL) hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu đời nên xuống cấp nhanh và hoạt động thiếu đồng bộ trong khi đó nguồn vốn ngân sách đầu tư cho duy tu bảo dưỡng rất hạn hẹp, cộng với nhận thức về vai trò bảo trì công trình của các cấp quản lý còn hời hợt nên năng lực phục vụ thực tế của công trình thấp hơn nhiều so với thiết kế. Theo thống kê của Cty TNHH MTV Khai thác CTTL tỉnh Ninh Thuận thì hàng năm chi phí cho công tác nạo vét, duy tu và sửa chữa 1 công trình của tỉnh chiếm từ 50-55% nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí nhưng dường như vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu thực tế cần bảo trì của các công trình. Xuất phát từ thực trạng đó, ý tưởng thực hiện đề tài luận văn“Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, áp dụng cho hồ chứa nước Sông Sắt” của tác giả được xây dựng, nhằm nghiên cứu những giải pháp quản lý thiết thực, có cơ sở nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận. Mục đích nghiên cứu Xác định được những tồn tại và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo trì các công trình thủy lợi tại tỉnh Ninh Thuận.
Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo trì cho các công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, áp dụng cho hồ chứa nước Sông Sắt. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi tỉnh Ninh Thuận, cụ thể là đối với hồ Sông Sắt. Phạm vi nghiên cứu Do thời gian nghiên cứu có hạn và trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài như sau: - Công trình thủy lợi đề cập trong phạm vi đề tài chỉ đề cập đến các hạng mục thuộc công trình đầu mối của hồ chứa nước do Công ty TNHH MTV khai thác CTTL tỉnh Ninh Thuận quản lý.
- Các đề xuất tập trung vào giải pháp quản lý nhằm nâng cao chât lượng bảo trì CTTL, không đi về giải pháp công trình. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2 4. Cách tiếp cận - Tiếp cận lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu đã được nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu; - Tiếp cận thực tế công tác QLCL bảo trì các công trình thủy lợi ở Việt Nam, ở Ninh Thuận. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra, thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu và hồ sơ lưu trữ liên quan.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích các tài liệu, văn bản pháp luật liên quan. - Phương pháp chuyên gia. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: việc ứng dụng phần mềm thống kê phiên bản SPSS 20.0 vào phân tích xử lý dữ liệu của đề tài về quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi là một hướng làm mới, tạo cơ sở chắc chắn và có tính khoa học cho những giải pháp đề xuất trong luận văn. - Ý nghĩa thực tiễn: Một số kết quả đạt được của luận văn có thể áp dụng vào thực tiễn công tác quản lý, khai thác và vận hành công trình thủy lợi tại tỉnh Ninh Thuận, đặc biệt cho hồ Sông Sắt; góp phần bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành.
Kết quả đạt được 6. Kết quả đạt được - Luận văn đã khái quát được hiện trạng quản lý chất lượng bảo trì công trình thủy lợi của tỉnh Ninh Thuận, xác định được những tồn tại và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo trì các công trình thủy lợi tại tỉnh NT, đó là cơ sở để xây dựng các nhân tố cho phiếu khảo sát. 3 - Áp dụng phương pháp phiếu điều tra (pp chuyên gia) và phần mềm SPSS giúp cho nguồn data trở nên khách quan hơn, việc xử lý thông tin tốt hơn, số liệu thu được có xét đến sự ràng buộc và mối quan hệ lẫn nhau, từ đó giúp tác giả có nhận định tốt hơn về các giải pháp đề xuất. - Tác giả đề xuất những giải pháp quản lý được cho là có tính khả thi có thể thay đổi hiện trạng chất lượng bảo trì hiện nay và nâng cao chất lượng bảo trì các CTTL do Công ty TNHH MTV Khai thác CTTL tỉnh Ninh Thuận trực tiếp quản lý vận hành.
Hạn chế của luận văn - Phạm vi nghiên cứu của luận văn bị giới hạn và có nhiều nội dung không được thực hiện như ý định ban đầu khi lập đề cương do khó khăn trong quá trình tiếp cận các cơ quan, đơn vị có liên quan để thu thập tài liệu. - Luận văn chưa bao quát hết được toàn bộ các vấn đề quản lý chất lượng bảo trì các CTTL của tỉnh, và đề xuất các giải pháp ở một góc nhìn hẹp chủ yếu từ nhu cầu của đơn vị trực tiếp quản lý sử dụng, mà chưa mở rộng ở các cấp quản lý cao hơn. 4 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Khái quát về QLCL công trình xây dựng 1.1 Các khái niệm liên quan đến QLCL công trình xây dựng 1.1 Khái niệm công trình xây dựng Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. CTXD bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác [1].
Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp và của người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP. Vì vậy chất lượng CTXD là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người.2 Khái niệm chất lượng CTXD Chất lượng CTXD là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với Quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của Nhà nước [2]. Ngoài ra, chất lượng CTXD cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan như: - Chất lượng CTXD được hình thành ngay từ trong các giai đoạn đầu tiên của quá trình đầu tư xây dựng công trình đó. Nghĩa là vấn đề chất lượng xuất hiện và cần được quan tâm ngay từ trong khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát, thiết kế, thi công đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ.
5 - Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện; - Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định vật liệu, cấu kiện, mà còn ở chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động có đáp ứng tay nghề và chuyên môn theo quy định trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng. - Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng. - Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình có thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng. - Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng.
- Vệ sinh và bảo vệ môi trường.