CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Luật doanh nghiệp, 2014). Các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 doanh nghiệp bao gồm các loại hình sau: - Thứ nhất: Công ty trách nhiệm hữu hạn, bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. + Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trongphạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật này; Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật này. + Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
- Thứ hai: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. - Thứ ba: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ 7 phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. - Thứ tư: Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Thứ năm: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: + Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. + Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
+ Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc 8 tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định này. + Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định này. + Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Nghị định này. + Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Nghị định này.2 Tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng Theo quy định VPBank, doanh nghiệp nhỏ và vừa được chia làm ba phân khúc: Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro SME), Doanh nghiệp nhỏ (Small SME), Doanh nghiệp vừa (Middle SME), được xác định bởi các tiêu chí bảng 1.1: Tiêu chí xác định phân khúc doanh nghiệp Tên phân khúc Vốn chủ sở hữu Doanh thu thuần (tỷ VNĐ) (tỷ VNĐ) Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro SME) Dưới 10 Đến 40 Doanh nghiệp nhỏ (Small SME) Từ 10 đến dưới 50 Trên 40 đến 200 Doanh nghiệp vừa (Middle SME) Từ 50 đến 400 Trên 200 đến 600 9 Tiêu chí đầu tiên để xác định phân khúc khách hàng là vốn chủ sở hữu.
Các doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện về vốn nhưng không đáp ứng điều kiện về doanh thu của phân khúc đó sẽ được xếp xuống phân khúc thấp hơn 1 bậc. Doanh thu và vốn chủ sở hữu dùng để xác định là báo cáo tài chính của năm liền kề trước đó. Doanh nghiệp siêu nhỏ (Micro SME) là doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu dưới 10 tỷ đồng và doanh thu thuần của năm liền kề tối đa đến 40 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ (Small SME) là doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu từ 10 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng và doanh thu thuần của năm liền kề từ trên 40 tỷ đồng đến 200 tỷ đồng.
Doanh nghiệp vừa (Middle SME) là doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu từ 50 tỷ đồng đến dưới 400 tỷ đồng và doanh thu thuần của năm liền kề từ trên 200 tỷ đồng đến 600 tỷ đồng.3 Các phương thức cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại Với đặc điểm là có quy mô vốn nhỏ và nhu cầu sử dụng vốn thường xuyên thì phương thức cho vay chủ yếu đối với các DNNVV là các phương thức cho vay ngắn hạn. DNNVV thường lựa chọn vay ở các ngân hàng có uy tín và quan hệ tốt với DN để thuận lợi, nhanh chóng hơn trong việc thực hiện các thủ tục cho vay và vay nhiều lần. Một số các phương thức cho vay ngắn hạn DNNVV thường được thực hiện: + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho DNNVV hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và DN đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Căn cứ để cấp hạn mức tín dụng là kế hoạch tài chính của DN, trong đó dự báo chi tiết về tài sản và vốn của DN. Đây là phương thức cho vay thuận tiện cho các DN vay mượn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Phương thức cho vay này có ưu điểm là thủ tục đơn 10 giản, DN chủ động được nguồn vốn vay, tuy nhiên về phía ngân hàng dễ bị đọng vốn, đồng thời do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. + Cho vay luân chuyển: là phương thức cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.
Phương thức cho vay này cũng thường được áp dụng đối với DNNVV có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Thủ tục cho vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay nên rất thuận tiện đối với các DN. Tuy nhiên nếu DN gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng. (Nguyễn Minh Kiều (2011), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại) Quy mô cho vay ngắn hạn của NHTM đối với các DN như sau: Bước 1: Xác định nhu cầu hàng hóa dự trữ bình quân trong kì DS bán tính theo giá vốn trong kì Nhu cầu dự trữ hàng hóa = Vòng quay hàng hóa dự trữ trong kì Vòng quay được tính dựa trên DS bán ra tính theo giá vốn kì trước DS bán của kì trước = Dự trữ hàng hóa bình quân kì trước Bước 2: Xác định nhu cầu vay vốn ngắn hạn Nhu cầu vay Nguồn vốn chủ sở hữu, vay các Nhu cầu hàng hóa dự ngắn hạn = - TCTD khác tài trợ cho nhu cầu dự trữ bình quân trong kì NH trữ hàng hóa bình quân Nếu doanh nghiệp hiện đang vay ngân hàng thì số tiền có thể cho vay thêm là: Số tiền có thể Nhu cầu vay Dư nợ đến thời điểm = - cho vay thêm ngắn hạn NH xin vay.
Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay, ngân hàng quyết định số tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo. Số tiền có thể = Giá trị TSĐB x Tỷ lệ cho vay cho vay Bên cạnh nhu cầu vốn thường xuyên cho hoạt động kinh doanh, sản xuất, các 11 DNNVV còn có nhu cầu về vốn để đầu tư vào TSCĐ và vào các dự án ký kết với các bên đối tác.