Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại &gân hàng thương mại cổ phần Việt &am Thịnh Vượng – Chi nhánh Huế. Chương 3: Giải pháp nâng có chất lượng dịch vụ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại &gân hàng thương mại cổ phần Việt &am Thịnh Vượng – Chi nhánh Huế. SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 4 Khóa luận tốt nghiệp PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ CHẤT LƯỢ G DNCH VỤ TÍ DỤ G ĐỐI VỚI KHÁCH HÀ G DOA H GHIỆP HỎ VÀ VỪA CỦA GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp được xem là lực lượng chủ chốt trong nền kinh tế của đất nước, giúp cho nền kinh tế ổn định và phát triển, làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nước. Vậy doanh nghiệp là gì? Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp (2020), “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Có nhiều tiêu chí để phân loại các loại hình doanh nghiệp, tùy thuộc vào mục tiêu và cách thức tiếp cận mà sẽ có cách phân chia không giống nhau như theo hình thức pháp lý, theo tính chất sở hữu tài sản, theo ngành nghề kinh doanh, theo mô quy mô, … N ếu dựa vào quy mô, doanh nghiệp có thể chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm tỉ trọng cao và hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với quy môi nhỏ về vốn, số lượng lao động không cao. Tại Việt N am, DN N VV đóng vai trò rất lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế, nó được xem là động lực để phát triển kinh tế, góp phần vào quá trình giải quyết các vấn đề an ninh xã hội của đất nước. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là thuật ngữ dùng để chỉ những doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ hoặc siêu nhỏ. Tùy theo điều kiện cụ thể mà các quốc gia trên thế giới sẽ quy định các tiêu chí để xác định quy mô của loại doanh nghiệp này.
Ở Việt N am, DN N VV được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng. SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 5 Khóa luận tốt nghiệp Theo khoản 1 Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017), “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng”. Có nhiều quan điểm khác nhau về DN N VV nhưng nhìn chung việc đánh giá, phân loại mô hình doanh nghiệp này sẽ dựa vào 3 phương diện chủ yếu: nguồn vốn, nhân lực và doanh thu. Trên thực tế, việc đưa ra các định nghĩa về DN N VV sẽ phụ thuộc vào từng điều kiện, quy mô nền kinh tế - xã hội cụ thể ở mỗi quốc gia cũng như từng thời điểm của các quốc gia đó mà sẽ có những định nghĩa khác nhau.
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Căn cứ vào quy mô về vốn, nhân sự, doanh thu, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia ba loại là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo điều 6 tại N ghị định 39/2018/N Đ-CP của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2018) quy định về đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng.
SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 6 Khóa luận tốt nghiệp - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng. SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 7 Khóa luận tốt nghiệp Doanh nghiệp vừa - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng. - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm của doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối giống nhau về mô hình kinh doanh, năng lực quản lý doanh ngiệp, ….
Tuy nhiên, hai đối tượng này cũng có nhiều điểm khác nhau như: Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ - Quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp siêu nhỏ chủ yếu là hộ kinh doanh lớn hoặc các doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, có số lượng người lao động dưới 10 người; - Các doanh nghiệp này có phạm vi hoạt động nhỏ, chủ yếu là hoạt động trong một khu vực nhất định; - Quá trình hoạt động kinh doanh của nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ khó tách bạch được với các hoạt động của cá nhân chủ sở hữu hoặc hộ kinh doanh của chủ sở hữu và doanh nghiệp; - Về báo cáo tài chính, các doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ có báo cáo tài chính nhưng việc hạch toàn lại chưa đầy đủ hoặc chưa phù hợp với chuNn mực kế toán, còn đối với hộ kinh doanh thì không có báo cáo tài chính; - N hu cầu về tài chính của các doanh nghiệp siêu nhỏ là thực hiện một số sản phNm thông thường, chủ yếu là hoạt động cho vay. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa - Các doanh nghiệp này có quy mô kinh doanh vừa, có số lượng lao động từ 10 đến 200 người đối với doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người đối với doanh nghiệp vừa; SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 8 Khóa luận tốt nghiệp - Phạm vi hoạt động của nhóm doanh nghiệp này là từ nhỏ đến vừa, trong một số trường hợp hoạt động cá nhân của chủ sở hữu, hộ kinh doanh của chủ sở hữu đan xen với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; - Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể có báo cáo tài chính kiểm toán nhưng mức độ tin cậy lại chưa cao, hách toán có thể chưa đầy đủ hoặc chưa phù hợp với chuNn mực kế toán. - N hu cầu về tài chính đa dạng với các sản phNm như cho vay, bảo lãnh, LC, … 1. Tín dụng ngân hàng 1.
Khái niệm về tín dụng ngân hàng Để tăng trưởng kinh tế - xã hội thì hoạt động tín dụng là một hình thức không thể thiếu đối với một quốc gia, nó có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều hòa dòng vốn trong nền kinh tế của quốc gia đó. Tín dụng chính là sự chuyển nhượng tài sản có giá trị từ người sở hữu sang người mượn để sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, sau khi hết thời gian đó thì tài sản này sẽ trả lại cho người sở hữu và sẽ cộng thêm phần lợi nhuận trong quá trình cho mượn. Đầu tiên, đối với khái niệm về tín dụng, theo tiếng Latinh là “Creditim”, có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Dựa theo ngôn ngữ dân gian Việt N am, “tín dụng là sự vay mượn”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) cho rằng: “Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận”. Tín dụng ngân hàng là một thuật ngữ đã xuất hiện, tồn tại và phát triển từ lâu cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, tín dụng có rất nhiều nghĩa được đưa ra và sử dụng tùy phụ thuộc theo từng bối cảnh của nó, ngữ cảnh khác nhau sẽ có những cách giải thích không giống nhau. Tóm lại, tín dụng ngân hàng chính là sự vay mượn từ các chủ thể với nhau.
Từ trước đến nay, ngân hàng vẫn được xem là trung gian tín dụng khi ngân hàng vừa chủ thể đi vay cũng là chủ thể cho vay trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khi đề cập đến hoạt động tín dụng thì một trong những chức năng cơ bản về tín dụng của ngân hàng là nghiệp vụ cho vay. Có nghĩa, ngân hàng sẽ thực hiện hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức theo thỏa thuận của hai bên để khách hàng có thể dùng khoản tiền đó với nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi. SVTH: Hà Thị Kiều Oanh 9 Khóa luận tốt nghiệp Về tín dụng ngân hàng, theo N guyễn Minh Kiều (2009): “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”.
N goài ra, theo một số cách hiểu thông thường thì tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD) với các doanh nghiệp hay các cá nhân (bên đi vay).