SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC (1947) A. MỤC TIÊU - Về phẩm chất: Sinh viên có ý thức vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; chống lại những tư tưởng phản động, sai trái, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch; có niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Về năng lực: Giúp sinh viên hiểu được các nội dung cơ bản của tác phẩm; có kỹ năng rèn luyện đạo đức cách mạng của bản thân; lý giải được những vấn đề trong thực tiễn đấu tranh rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay. NỘI DUNG I- HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM 1.
Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Tháng 10/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc với bút danh X. Tình hình đất nước và công tác xây dựng Đảng lúc này có nhiều vấn đề, đặt ra nhiều yêu cầu mới: 184 Trên thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển thuận lợi. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh. Trong khi đó, cách mạng Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn.
Sau một năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể đã chuyển lên chiến khu Việt Bắc, hoạt động trong điều kiện chiến tranh ác liệt, nguy hiểm. Mặc dù vậy, quân và dân ta vẫn tiếp tục tấn công giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, tạo niềm tin chiến thắng, khích lệ cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân cả nước, củng cố các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể. Trong điều kiện mới, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến, vì vậy Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề này.
Nước ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong điều kiện tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, chưa nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của phong trào cách mạng thế giới. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, nêu cao đạo đức cách mạng, dám chấp nhận hy sinh, gian khổ, đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên 185 trên hết, đã thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống quan liêu, bệnh hình thức, chống chủ nghĩa cá nhân. Đảng đã đề ra và thực hiện chủ trương xây dựng các “chi bộ tự động công tác” nhằm khắc phục khó khăn do điều kiện thông tin liên lạc bị ách tắc, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo của các tổ chức đảng. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành công tác xây dựng Đảng từ năm 1945 đến năm 1947, Hồ Chí Minh thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm rất đáng biểu dương, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn bộc lộ những thiếu sót lớn làm giảm uy tín của Đảng, ảnh hưởng đến sự nghiệp kháng chiến.
Vì vậy, tháng 10/1945, Người đã gửi thư cho Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, tháng 3/1947 gửi thư cho các đồng chí Bắc Bộ, Trung Bộ. Trong những bức thư đó, Người đã đề cập đến công tác tổ chức, lề lối làm việc, những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ những nguy cơ thoái hóa, biến chất và căn bệnh của đảng cầm quyền là: quan liêu, địa phương chủ nghĩa; óc bè phái, hẹp hòi; ham chuộng hình thức, ích kỷ, hủ hóa, chung quy lại là “chủ nghĩa cá nhân” và “kiêu ngạo cộng sản”, những căn bệnh này đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Cuối bức thư, Người viết: “Mong các đồng chí mang toàn bộ tinh thần cách mạng mà khắc phục các khuyết điểm, phát triển các ưu điểm, đồng tâm hiệp lực, 186 đoàn kết nội bộ, mở rộng hàng ngũ, chấn chỉnh công tác để lãnh đạo toàn dân hăng hái kháng chiến để đi đến thắng lợi vẻ vang”1.
Qua theo dõi tình hình thực tế, Hồ Chí Minh thấy phong trào đấu tranh tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên còn yếu kém, “Những cán bộ và đảng viên các nơi, hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa”2. Chính vì vậy, Người đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc để giúp cán bộ, đảng viên có tài liệu học tập, rèn luyện, tu dưỡng về các mặt tư tưởng, đạo đức và phương pháp làm việc. Khi ấy, Người đang ở làng Vang, xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Sửa đổi lối làm việc là một tác phẩm quan trọng, ra đời trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện tư tưởng và lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cầm quyền trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
Theo đó, phải sửa đổi để đổi mới trong tư tưởng, trong tổ chức bộ máy và trong cách làm việc của Đảng, của cán bộ, đảng viên trước tình hình mới. Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, tìm ra nguyên nhân, biện pháp và cách thức tiến hành để cán bộ, đảng viên có tư tưởng, đạo đức và cách làm việc đúng hơn, khéo hơn, ________________ 1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 187 hiệu quả hơn; và nội dung cần phải sửa đổi là toàn bộ hoạt động của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên từ nhận thức, tư tưởng đến chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Bố cục của tác phẩm Tác phẩm đề cập đến 6 vấn đề lớn, vừa có tính lý luận, vừa có tính chỉ đạo thực tiễn sâu sắc về công tác xây dựng Đảng: 1- Phê bình và sửa chữa 2- Mấy điều kinh nghiệm 3- Tư cách và đạo đức cách mạng 4- Vấn đề cán bộ 5- Cách lãnh đạo 6- Chống thói ba hoa Trong mỗi mục lớn có nhiều mục nhỏ được sắp xếp theo một trật tự chặt chẽ, bảo đảm tính logic, chỉnh thể của một tác phẩm lý luận. Tác phẩm tập trung vào chủ đề xây dựng Đảng, trong đó chủ yếu là những vấn đề bức xúc đặt ra về tư tưởng, đạo đức, công tác cán bộ, đảng viên, quan hệ giữa Đảng và quần chúng; về phương pháp, phương thức lãnh đạo của Đảng; về cách thức học tập đạt kết quả cao; về những khuyết điểm của cán bộ, đảng viên mắc phải, cách sửa chữa. 188 II- NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM 1. Những khuyết điểm, căn bệnh của cán bộ, đảng viên và cách sửa chữa a) Những khuyết điểm, căn bệnh Theo Hồ Chí Minh, khuyết điểm có nhiều thứ, có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng: khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan; khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi; khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa.
Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm phải sửa chữa ngay. - Về bệnh chủ quan: Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông. Theo Người: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”1. Lý luận chân chính là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận.
Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Căn bệnh này được biểu hiện rất rõ, đó là: kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Kém lý luận tức là gặp mọi việc không xem xét, cân nhắc đúng, nghĩ thế nào làm thế đấy, kết quả thường thất bại. Khinh lý luận tức là làm việc theo kinh nghiệm.
Theo Hồ Chí Minh, đã có kinh ________________ 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 189 nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Kinh nghiệm của cá nhân tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận, chỉ thiên về một mặt.
“Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”1. Theo Người, để trở thành người cán bộ hoàn toàn cần phải học thêm lý luận. Lý luận suông tức là siêng xem sách và xem được nhiều sách nhưng không biết áp dụng vào công việc thực tế. Theo Người, “xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”2.
Hồ Chí Minh cho rằng, những người mắc căn bệnh này phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.
Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn.
Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”3. Vì vậy, phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.
- Về bệnh hẹp hòi: Đây là căn bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên mắc phải. Bởi vì, theo Người căn bệnh này: Trong, thì “ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết”. Ngoài, thì “phá hoại sự đoàn kết toàn dân”4. Nhiều thứ bệnh, như ________________ 1, 2, 3, 4.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 190 chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra. Căn bệnh này được biểu hiện: chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham vọng, tham địa vị, dìm người giỏi. Bệnh hẹp hòi đối ngoại: chỉ cần đoàn kết trong Đảng, không cần đoàn kết toàn dân.
Theo Hồ Chí Minh, bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra.
Vì vậy, phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Để chữa những căn bệnh đó “phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình”1. Hai việc đó phải đi đôi với nhau.