phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, sơ đồ và phụ lục, phần nội dung luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Công chức Công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ một quốc gia nào. Đội ngũ này có vai trò quan trọng, nhằm thực thi pháp luật để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đƣờng lối, thể chế của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên, do tính đặc thù của từng quốc gia mà khái niệm công chức ở các nƣớc cũng có sự khác nhau.
Ở Nhật Bản: “Công chức đƣợc phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nƣớc và công chức địa phƣơng. Công chức nhà nƣớc gồm những ngƣời đƣợc nhận chức trong bộ máy của Chính phủ trung ƣơng, ngành tƣ pháp, quốc hội, trƣờng công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh đƣợc lĩnh lƣơng của ngân sách nhà nƣớc. Công chức địa phƣơng là những ngƣời làm việc và lĩnh lƣơng từ tài chính địa phƣơng”.3] Ở Pháp: “Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở, bao gồm cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nƣớc tổ chức, bao gồm ở Trung ƣơng và địa phƣơng”.16] Nhƣ vậy, công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm 11 việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn đồng nhất. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành, gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nƣớc.
Khái niệm công chức lần đầu tiên đƣợc nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc. Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng nhƣ nhằm phân biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, năm 2019 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức. Theo đó, tại khoản 1, Điều 1 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ Ngân sách Nhà nƣớc”. [23] Từ những quan điểm nêu trên, trong luận văn tác giả đã sử dụng khái niệm công chức theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi năm 2019.
Cấp xã Ở nƣớc ta, Việt Nam có 4 cấp hành chính, tƣơng ứng với 4 cấp chính quyền đó là: Trung ƣơng, tỉnh, huyện và xã. Hiến pháp năm 2013 kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 về các đơn vị hành chính tại khoản 1, Điều 110 xác định: “Các đơn vị hành chính của nƣớc Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đƣợc phân định nhƣ sau: Nƣớc chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố 12 trực thuộc Trung ƣơng chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tƣơng đƣơng; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phƣờng và xã; quận chia thành phƣờng; đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập”. [25] Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2019, kế thừa quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy định tại điều 2: “Xã (hoặc phƣờng, thị trấn) là đơn vị hành chính cơ sở dƣới cấp huyện. Ở ngoại thị thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã thì gọi là xã, ở nội thị thì gọi là phƣờng; ở các quận thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng thì gọi là phƣờng; ở các huyện thì gọi là xã hoặc thị trấn”.
Công chức cấp xã Ở Việt Nam hiện nay công chức cấp xã đã đƣợc xác định rõ ràng về địa vị pháp lý. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019 kế thừa quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 tại Khoản 3, Điều 4 xác định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. [23] Công chức cấp xã gồm 07 chức danh quy định tại Khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 và Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, cụ thể gồm có: Trƣởng công an (áp dụng đối với xã, thị trấn chƣa tổ chức công an chính quy theo quy định của Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14); Chỉ huy trƣởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng; Tài chính - kế toán; Tƣ pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. 13 Hiện nay, theo Nghị định số 42/2021/NĐ-CP quy định việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy; “quy định hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy ở các xã, thị trấn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự trƣớc ngày 30/6/2021; các xã, thị trấn còn lại trong toàn quốc hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy trƣớc ngày 30/6/2022” [10].
Theo đó công an xã không còn là công chức xã. Nhƣ vậy, theo quy định mới nhất, công chức xã gồm 06 chức danh: Chỉ huy trƣởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng; Tài chính - kế toán; Tƣ pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Chất lượng công chức cấp xã Theo từ điển tiếng Việt, chất lƣợng đƣợc xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con ngƣời, một sự vật, một sự việc” [20, tr. Đây là cách đánh giá một con ngƣời, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Chất lƣợng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tƣơng đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lƣợng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Chất lƣợng của sự vật, hiện tƣợng biểu thị trình độ phát triển của nó, chất lƣợng càng cao thì mức độ phát triển của sự vật càng lớn”.167] Chất lƣợng của công chức thể hiện ở mối quan hệ hợp tác giữa các yếu tố, các thành viên; phản ánh thông qua các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức của ngƣời công chức. Nhƣ vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chất lƣợng đội ngũ công chức, tác giả cho rằng: “Chất lƣợng công chức là chất lƣợng hoạt động công vụ của công chức, thể hiện ở trình độ 14 chuyện môn, nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết cho mọi nhiệm vụ”.
“Chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã là chỉ tiêu tổng hợp chất lƣợng của từng công chức cấp xã, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lƣợng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đƣợc phân công của mỗi công chức cũng nhƣ cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lƣợng đội ngũ công chức bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp xã”. Nâng cao chất lượng công chức cấp xã Nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng công chức, đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân mỗi ngƣời công chức. Trên cơ sở phân tích về chất lƣợng công chức xã, có thể hiểu: “Nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã là tập hợp những giải pháp có tác động tích cực đến chất lƣợng của từng công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp xã cũng nhƣ mối quan hệ cá nhân trong tập thể, tinh thần phối hợp trong thực thi công vụ nhằm hoàn thành công việc chuyên môn và hƣớng tới mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng mà địa phƣơng đặt ra”.
Tiêu chí đánh giá chất lƣợng công chức cấp xã 1. Trình độ và các kỹ năng Trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa thể hiện nền tảng kiến thức căn bản, giúp hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của mỗi ngƣời, đồng thời thể hiện khả năng tƣ duy, nhận thức, nắm bắt các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị. Đây là 15 nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức mới, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng nhƣ thái độ và cách ứng xử trong thực thi công vụ. Trình độ văn hóa đƣợc đánh giá qua những văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân, gồm: bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
Tiêu chuẩn về trình độ văn hóa của công chức cấp xã đƣợc Bộ Nội vụ quy định cụ thể tại Thông tƣ số 13/2019/TT-BNV ngày 06 tháng 11 năm 2019.