CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ Quan niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta vào những năm 30 của thế kỷ XX, để chỉ một lớp người, những chiến sĩ cách mạng chịu hy sinh, gian khổ, đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Sau này, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được dùng phổ biến để chỉ tất cả những người thoát ly tham gia hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân. Trong một thời gian dài ở nước ta, quan niệm cán bộ gần như được dùng thay thế cho quan niệm công chức. Cán bộ trong tiếng Việt thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Thuật ngữ Cán bộ còn chỉ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định.
Trong quân sự, cán bộ được dùng như từ đồng nghĩa với sĩ quan. Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn.), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng)1. Nhìn chung, theo nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam, thuật ngữ "cán bộ" xuất hiện trong đời sống xã hội ở Việt Nam từ sau khi có phong trào cách mạng theo con đường chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ "cán bộ" lần đầu tiên trong bài có nhan đề "Nhật Bản" đăng trên báo La Vie Ouvrière ngày 09- 11-1923, trong bài đó có đoạn viết: cần “đào tạo cán bộ cho những hoạt động tích 1 https://vi.org/wiki/C%C3%A1n_b%E1%BB%99 (ngày 20/05/2018).
8 van cực” [HCM tập 4, tr. Người chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [HCM tập 5, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999), Nguyễn Như Ý biên soạn, thì thuật ngữ cán bộ có hai nghĩa, là “Người làm việc trong cơ quan nhà nước”; là “Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước”[23, tr.
Từ điển tiếng Việt (1998), thì cán bộ là “người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước”; “người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ”[15, tr. Quan niệm cán bộ được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau như sau: - Trong tổ chức Đảng và đoàn thể thường được dùng với hai nghĩa: một là, chỉ những người được bầu vào cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên; hai là, những người làm công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức đảng, đoàn thể. - Trong quân đội là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn v.v…) hoặc là sĩ quan từ cấp úy trở lên. - Trong hệ thống bộ máy nhà nước, quan niệm cán bộ về cơ bản được hiểu trùng với quan niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngạch hành chính, tư pháp, lập pháp, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo. Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực cụ thể khác nhau nhưng về cơ bản thuật ngữ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là lãnh đạo, là chỉ huy. Khái niệm cán bộ trong luận văn này, được vận dụng theo Khoản 1, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam là:“là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo 9 van nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [9]. Khái niệm công chức Từ điển tiếng Việt (1998), công chức được định nghĩa là “Người làm việc có chức vụ nhất định trong cơ quan nhà nước” [15, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2010), Nguyễn Như Ý (chủ biên), “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”. Trong “khái niệm công chức” theo Từ điển Tiếng Việt (2010), không đề cập đến lực lượng làm việc trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Các yêu cầu phải “được tuyển dụng”, “được bổ nhiệm” và “hưởng lương từ ngân sách nhà nước” không phải là điểm đặc trưng của riêng đối tượng công chức [22, 2010]. Khoản 2, Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), cũng đã xác định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[9].
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công 10 van lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Như vậy, khái niệm công chức là thuật ngữ để chỉ những người làm việc thường xuyên trong bộ máy hành chính nhà nước.
Họ được tuyển dụng, bổ nhiệm và làm việc ổn định theo những chuyên môn nhất định, được nhà nước trả lương và đảm bảo những điều kiện vật chất, tinh thần để thực thi công vụ. Lao động công chức mang tính nghề nghiệp và chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh CBCC. Khái niệm chất lượng Chất lượng hay đúng ra phẩm chất là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng, tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế.1, tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”2.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (2010), chất lượng là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật: Chất lượng hàng hóa tốt”, và “Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia; phân biệt với số lượng: tăng trưởng số lượng đến mức nào thì làm thay đổi chất lượng” [22, tr. - Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là “trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [Quốc Khánh, tr 65]. Qua đó cho thấy, chất lượng là mức độ các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Khái niệm chất lượng có thể gắn với bất cứ thực thể nào: sản phẩm, dịch vụ, quá trình, hệ thống, tổ chức, con người, sự vật…Mức độ chất lượng có thể diễn đạt bằng các tính từ: xấu, trung bình, tốt, xuất sắc, tuyệt hảo… 2 https://vi.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_l%C6%B0%E1%BB%A3ng (Ngày 20/06/2018) 11 van 1.
Khái niệm đội ngũ Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên (2010), đội ngũ được định nghĩa: “Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng: đội ngũ chỉnh tề”, là “Tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp: đội ngũ những người làm báo: đội ngũ những người viết văn trẻ”[102, tr. Theo đó, khi nói đến một đội ngũ là nói đến một số lượng đông người có cơ cấu giới tính, dân tộc, tôn giáo, ngành nghề, tuổi đời, trình độ… khác nhau hợp thành tổ chức có chức năng, nhiệm vụ chính và đặc điểm hoạt động tương đối giống nhau. Đội ngũ cán bộ, công chức không phải là tổng số giản đơn các cán bộ, công chức, mà còn là sự bố trí, phân công và phối hợp hoạt động giữa các cán bộ, công chức làm nên sức mạnh để đội ngũ cán bộ, công chức hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình. Bởi vậy, khi xem xét đội ngũ cán bộ, công chức của một tổ chức, cơ quan, địa phương nào đó phải xem xét ba yếu tố chủ yếu là: số lượng cán bộ, công chức; cơ cấu cán bộ, công chức và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
Nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ công chức Nâng cao chất lượng nghĩa là hoạt động có mục đích nhằm cải thiện theo hướng tích cực toàn diện hay từng phần những đặc trưng, thuộc tính của một sự vật, sự việc, hiện tượng, quá trình hoạt động… nào đó. Với một sự vật, hiện tượng cụ thể, dưới các góc tiếp cận khác nhau, những chuẩn mực khác nhau có thể có nhiều cách nâng cao chất lượng khác nhau để đạt chuẩn mực.