CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã 1. Một số khái niệm cơ bản a. Cán bộ, công chức Cán bộ, công chức là một trong những thành tố quan trọng, cơ bản của quản lý nhà nước.
Theo nghĩa chung nhất, cán bộ, công chức được dùng để chỉ những người có trọng trách trong các cơ quan Đảng và Nhà nước. Tuy vào từng thời kỳ lịch sử và góc độ tiếp cận khác nhau mà có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cán bộ, công chức như: - Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quy chế công chức Việt Nam định nghĩa: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. - Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Chính phủ định nghĩa: “Công dân Việt nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”. - Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức định nghĩa: “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân 8 Luan van mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, học viên thống nhất sử dụng khái niệm Cán bộ được quy định trong Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[27]. Và thống nhất sử dụng khái niệm Công chức được quy định trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức số: 52/2019/QH14 ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019 như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[28]. Khái niệm cán bộ, công chức kể trên được dùng để chỉ những người làm việc tại cấp huyện đến cấp trung ương. Như vậy, còn một nhóm cán bộ, công chức khác nữa là cán bộ, công chức cấp xã.
Cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính 9 Luan van trị - xã hội. Như vậy có thể thấy, cán bộ cấp xã cũng có những dấu hiệu nhận biết như cán bộ nói chung như: được bầu cử, có chức vụ và làm việc theo nhiệm kỳ. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ, khái niệm cán bộ nói chung không ấn định chi tiết các chức vụ nào là cán bộ, còn cán bộ cấp xã được liệt kê chức vụ chi tiết. Như vậy, phạm vi của cán bộ rộng hơn cán bộ cấp xã.
Cơ cấu cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tương tự như cán bộ cấp xã, công chức cấp xã cũng có những điểm giống và khác nhau với khái niệm công chức nói chung. Theo đó, học viên thống nhất sử dụng khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, công chức xã được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Cơ cấu công chức cấp xã: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; 10 Luan van c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hoá - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. Hai khái niệm cán bộ, công chức cấp xã không bị sửa đổi, bổ sung tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức, số: 52/2019/QH14, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019.
- Số lượng công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 34/2019/NĐ-CP, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã của Chính phủ quy định: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 23 người, cấp xã loại 2 không quá 21 người, cấp xã loại 3 không quá 19 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã). Quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã là một nội dung của quản lý nhà nước nói chung. Trên cơ sở định nghĩa đó, có thể thấy: “Quản lý nhà nước về cán bộ, công 11 Luan van chức cấp xã là hoạt động thực thi quyền hành pháp, trong đó các chủ thể quản lý có thẩm quyền sử dụng các phương tiện, công cụ và cách thức tác động vào cán bộ, công chức cấp xã và các mối quan hệ liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã nhằm đạt được các mục tiêu đã định trước”.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã Quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã là một nội dung trong quản lý nhà nước nên ngoài những đặc điểm của quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về cán bộ, công chức cấp xã có những đặc điểm liên quan đến đối tượng, phạm vi và các tính chất chất của hoạt động này. Cụ thể: Thứ nhất, quản lý cán bộ, công chức cấp xã có đối tượng là cán bộ, công chức cấp xã và các mối quan hệ liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã. Theo đó, trong hệ thống nhân sự công vụ Việt Nam, cán bộ, công chức cấp xã là một chế định có tính chất độc lập tương đối với cán bộ, công chức nói chung. Điều này gây ra nhiều tranh luận về việc cán bộ, công chức cấp xã có phải là cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, theo học viên, với sự ghi nhận tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tính cả khái niệm Công chức được sửa đổi tại Điều 1, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức số: 52/2019/QH14 ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019 thì Cán bộ; Công chức và Cán bộ, công chức cấp xã được quy định thành ba quy phạm khác nhau. Trong đó tại Khoản 1 và Khoản 2 khi quy định về cán bộ, công chức đều xác định hai đối tượng này làm việc tại trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Trong khi đó, cán bộ, công chức cấp xã được xác định là làm việc tại xã, phường, thị trấn.