mở đầu của cuốn sách này, Bôgácten đề xuất nội dung đối tượng của khoa học Aesthétik. Ông viết: Khoa lôgíc học là khoa học nghiên cứu nhận thức hợp lý xuất phát từ lý trí. Song nhận thức của con người ta không chỉ bằng tư duy lý luận mà còn phải dựa vào cảm giác và tình cảm nữa. Vì vậy, bên cạnh và đồng thời với khoa lôgíc học, muốn nghiên cứu tốt nhận thức của con người phải có khoa học nghiên cứu về tình cảm.
Khoa lôgíc học thì nghiên cứu những quy luật của nhận thức lý tính, của nhận thức dựa vào tư duy và dạy cho ta cách đạt được, cách nắm bắt được chân lý. Còn mỹ học thì phải tìm hiểu những quy luật của nhận thức, tình cảm, cảm tính; hay nói cách khác, mỹ học giúp ta nhận thức được cái đẹp. Lôgíc học hướng tới chân lý, mỹ học hướng tới cái đẹp. Mỹ học là bhoa học nghiên cứu sự thụ cảm cái đẹp.
Theo Bôgácten thì sự thụ cảm về cái đẹp có liên quan đến sự thích: thú của con người về cái hoàn thiện. Mục tiêu 8 của mỹ học là sự hoàn thiện nhận thức cảm tính và ở đây cái đẹp đồng nhất với cái hoàn thiện. Trong mỹ học của Bôgácten, nguyên lý thích thú có sự hoà quyện giữa chức năng nhận thức và chức năng tính dục. Các tình cảm, sự phấn khích, sự khoan khoái của con người thường thông qua các giác quan mà có.
Các giác quan đã mang lại sự đam mê quá khích và thường không tỉnh táo, không phục tùng lý trí. Và sự xúc động tập trung nhất là lĩnh vực nghệ thuật. Chân lý nghệ thuật chấp nhận sự ưu tiên cho tình cảm. Lý trí ở trong nghệ thuật chịu sự khoan dung của tình cảm.
Mọi cái đúng, cái tốt trong mỹ học đều được nghiên cứu từ dạng xúc cảm (Sinlichkeit). Chân lý thẩm mỹ tồn tại dưới dạng tình cảm. Các sử gia đương thời và về sau đều khẳng định Alếchxanđơ Bôgácten là người đầu tiên xác lập khoa mỹ học với tu cách là một khoa học triết học độc lập cũng như các khoa học triết học khác như đạo đức học, lôgíc học. Mỹ học của Bôgácten, đại diện cho khuynh hướng đuy lý trong triết học.
o số triết học của Bôgácten để nghiên cứu mối quan hệ giữa lý trí và tình cảm trong nhận thức của con người là triết học của K. Cac nha triết học Đức này đều đại diện cho chủ nghĩa duy lý trong triết học. Các khuynh hướng chủ yếu trong mỹ học trước Mác- Sau khi mỹ học trở thành một khoa học độc lập, đã có nhiều khuynh hướng triết học khác nhau kế tiếp hoặc đồng thời nghiên cứu cái thẩm mỹ. Do những quan niệm 9 khác nhau về cái thẩm mỹ mà đã có nhiều cách giải quyết khác nhau về các vấn đề cơ bản của cái thẩm mỹ.
œ) Mỹ học của chủ nghĩa bùnh nghiệm Edmun Burker (Etmun Bécco) Nhà mỹ học kinh nghiệm nổi tiếng người Anh - Étmun Bóccơ (1729 - 1797) trong tác phẩm Nghiên cứu triết học uề nguồn gốc nhận thức của chúng ta uề cái eao cả uò cát đẹp (Philosophical inquiry into the origin of our ideas of sublime and the beautiful) viét vao nam 1756, đã dựa trên cd sd triét hoc cua Lécco (John Locke 1632-1704) phan tích cái thẩm mỹ. Theo ông, mỹ học là bộ phận của triết học thực nghiệm. Cái thẩm mỹ, theo Étmun Bóccơ có cội nguồn từ các giác quan. Các giác quan đã đưa lại cho con người mùi vị và ánh sáng, các cảm giác ấm và lạnh, những diễn biến vu1 buồn, ham muốn và phấn khởi trong tâm lý.
Các năng lực tưởng tượng của con người, các năng lực. phán đoán của con người đều gắn với các quy luật tâm sinh lý và tính cách. Tập quán, tình yêu, sự căm giận và nỗi lo sợ đều là phần ứng tình cảm thẩm mỹ. Bóccơ khẳng định: ở mỗi con người đều có hai khát vọng không giống nhau do lA khdt vong giao té va khat vong tu bao ton.
Khat vong giao tế thông qua các giác quan tạo nên mỹ cảm và cái đẹp. Còn khát vọng tu bao tồn tạo nên niềm vul, sự sợ hãi, đó là bản chất của tình cảm cao cả. Theo Bóccø, những ý niệm về cái đẹp và cái cao cả khác nhau về nguyên tắc, chúng khó lòng thống nhất thành một cảm xúc duy nhất. Cái đẹp thì mang lại tình 10 cảm tích cực, còn cái cao cả mang lại tình cảm tiêu cực.
Cái đẹp gắn liền với tính nhỏ nhắn của các hiện tượng, sự mịn màng của đối tượng, sự đa dạng của cơ cấu, sự uyển chuyển trong cấu trúc, sự kết hợp hài hoà giữa các màu và su tinh khiét không choáng ngợp. Ngược lại, cái cao cả thì -_ ẳn ào, ầm ï và choáng ngợp như các hiện tượng bão tố, sấm và chớp của tự nhiên-vậy. Theo Bóccơ, cái thẩm mỹ là sản phẩm của quan hệ sinh học giữa các hiện tượng tự nhiên và cảm giác của các giác quan. Như vậy, các giác quan của con người không biến động; và hiện tượng tự nhiên cũng không vận động, do đó, cái thẩm mỹ không mang bản chất xã hội: dân tộc, giai cấp và thời đại.
Etmun Bớccơ nghiên cứu theo triết học của Hôme, Lốccơ, Hutcheson, ông cho cdi cao ca la sự gồng lên uề cơ bap va than kinh, còn cái đẹp đi đôi uới sự dãn nhẹ cơ bắp va thần binh kèm theo sự thích thú. b) Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan LÑant (Canto) (1724 - 1804) Chủ nghĩa duy lý Bôgácten và chủ nghĩa kinh nghiệm Bécco da vach ra hai con đường nhận thức thẩm mỹ và nó cũng mang lại các khả năng phát hiện được những tình cảm thẩm mỹ mới và những chiều cạnh mới của đối tượng thẩm mỹ. Tuy nhiên; cả hai khuynh hướng mỹ học thời Khai sáng này đều đưa khoa mỹ học phân cực càng sâu. Trong tình hình đó, mỹ học Cantơ xuất hiện với hai nhiệm vụ rõ ràng: -- Một là: Điều hoà, hay nói đúng hơn, là làm một chiếc 11 cầu nối giữa chủ nghĩa duy lý mỹ học và chủ nghĩa kinh nghiệm thẩm mỹ; - Hai là: Hoàn thiện hệ thống triết học từ thời tiền phê phán chuyển vào triết học phê phán, thống nhất và hợp lý hoá các khái niệm tất yếu và tự do trong lĩnh vực lý trí thuần tuý, lý trí thực tiễn và khả năng phần đoán.
Mỹ học Cantơ không nghiên cứu các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, mà là những tình cảm chủ quan được trải nghiệm qua thế giới khách quan. Triết học thời kỳ phê phán của Cantơ nghiên cứu ba lĩnh vực quan trọng của hệ thống tâm lý - tỉnh thần, đó là tri-thức, ý chí và tình cảm. Phê phán lý tính thuần tuý là tác phẩm lớn nghiên cứu giác tính, thực chất đó là nhận thức luận Cantd. Phê phán lý tính thực tiễn xây dựng trên giả thiết linh hồn bất diệt và ý chí tự do, thực chất là đạo đức học Cantd.
Còn mỹ học Cantơ nghiên cứu các khát niệm không khái niệm, nghiên cứu các năng lực phán đoán. Để điều hoà giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm nói chung, nền tảng triết hoc Cantởơ xây dựng trên khái niệm tiên nghiệm tổng hợp. Đó là một hình thức tiên thiên của nhận thức có trước kinh nghiệm: thời gian, không gian, nhân quả, tất yếu, phạm trù với 4 mặt chính của nó là: chất, lượng, quan hệ và phương thức. Đối với Cantơ, khả năng của tri thức là sự thống nhất giữa tiên nghiệm và hậu nghiệm là sau kinh nghiệm mà điểm khởi xướng của nó là kinh nghiệm.
Mỹ học Cantơ được trình bày trong tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán, đó là tác phẩm được xuất bản sau cùng -trong bộ ba tác phẩm phê phán của ông (năm 1790). Với 12 đúng ý nghĩa sau cùng của nó, nó phải thực hiện được đồng thời cả hai nhiệm vụ mà Cantơ đã đặt ra cho triết học của mình: điều hoà giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời nối liền, điểu hoà và hoàn _ chỉnh hệ thống triết học được khởi xướng từ Phê phán lý tính thuần tuý - nghiên cứu giác tính và Phê phán lý tính thực tiễn - nghiên cứu lý tính nằm trong một hệ thống, một chỉnh thể. Có thể nói một cách hình ảnh rằng, Phê phán năng lực phán đoán là tác phẩm lấp đầy hố ngăn cách giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời lấp đầy các đường biên cứng nhắc mà Phê phán lý tính thuần tuý và Phê phán lý tính thực tiễn tạo ra các ranh giới nghiêm khắc của tri thức và đạo đức, của cái. chân và cái thiện.
: Trong Phê phán năng lực phứn đoán, Canto di md ra một bước ngoặt mới của mỹ học cận đại bằng cách đề cao. thực tiễn tinh thần, mở rộng năng lực tìm cái phổ biến cho cái cá biệt. Năng lực phán đoán không cần nhận thức bản chất khách quan của đối tượng mà chỉ quan tâm đến phương thức chủ quan của mỹ cảm. Coi nhận thức (giác tính) đạo đức (lý tính) và mỹ cảm vừa khác biệt vừa thống nhất, mỹ học Cantơ trước hết bắt nguồn từ các phán đoán lôgíc hình thức để phân tích các phán đoán thẩm mỹ.
Cũng như lôgíc được trình bày trong Phê phán lý tính thuần tuý, khi phân tích các khoái cảm thẩm mỹ, Cantơ đã chia các phán đoán thẩm mỹ thành bốn phương diện khác nhau. Đó là phương diện uề chất, uề lượng, uề quan hệ 0ò uê phương thức. 13 Về mặt chất, khác với phán dodn légic 1A mét phan đoán khái niệm, phán đoán lý tính, thì phán đoán thẩm mỹ là phán đoán tình cảm. Và để tránh rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm thẩm mỹ đơn thuần, Cantøơ cho rằng, phán đoán thấm mỹ là phán đoán không những không đối tượng mà còn không vụ lợi ích vật chất trực tiếp.
Đây là một quan điểm rất cơ bản của .mỹ học Cantơ. Nó không chỉ tìm cách khắc phục những khiếm khuyết của chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa kinh nghiệm thẩm mỹ, mà còn phân xuất các tình cảm, các khoái cảm trong và ngoài thẩm mỹ, những khoái cảm gắn với đối tượng và những khoái cảm không gắn với đối tượng. Các khoái cảm thủ tiêu đối tượng -và nhờ đối tượng tác động vào kích thích hệ thần kinh thì không phải là khoái cảm thẩm mỹ. Khoái cảm lúc ăn ngon, tắm mát, ngửi hương thơm và giải khát không phải là khoái cảm thẩm mỹ đã đành, nhưng cả các khoái cảm do việc tôn kính đưa lại cũng không thể là khoái cảm thẩm mỹ, bởi nó đưa tới phép tắc, ràng buộc tự do, quy định ý chí.