HEGHEN HEGHEN MY HOC PHAN NGỌC giới thiệu và dich TẬP I -_ NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC Mỹ học Hêghen, bản tiếng Việt của Phan Ngọc địch theo bản tiếng Nga của Xtolpner và Popov, Nhà xuất bản “Nghệ thuật”, Moskva, 1968, có đối chiếu với nguyên bản tiếng Đức Asthetik, Berlin 1955, và tham khảo các bản địch sau đây: bản tiếng Nga của Xtolpner, Moskva, 1938; bản tiếng Pháp của Jankelevich, Nhà xuất bản Montaigne, Paris, 1944 và bản tiếng Trung của Chu Quang Tiểm, Bắc Kinh,1958. MỸ HỌC CỦA HÊGHEN (tóm tắt nội dụng) PHAN NGỌC Bởi uì công trừnh - Những bài giảng về Mỹ học ' tức là quyển Mỹ nội học này đài uề khó đọc, chúng tôi thấy cân trình bày trước ở đây dụng tác dùng tác phẩm để khi đọc đỡ vất uá. Bài này tóm tắt nội học thế phẩm Mỹ học của Hôêghen, tác phẩm đô sộ nhất của mỹ mỹ học giới, thành một loạt luận điểm nêu lên mối quan hệ của uì cho đến nay uới chủ nghĩa hiện thực. Điều này là cân thiết, Fêghen nay, nếu như người ta thừa nhận sự đóng góp của lôgic uào biện chứng pháp duy uật, thì uề mỹ học thái độ chung là phủ nhận.
Cóc luận điểm đều có đấu sao”ở trước. Phần I: Ý NIỆM VÀ LÍ TƯỞNG 1. Nếu cần thu gọn toàn bộ mỹ học của Hôghen uào một câu thì có thể đó là Luận điểm 1 của ông uê định nghĩa cái đẹp. * Luận diém 1: Định nghia cdi dep.
là thể "Cái đẹp (nghệ thuật- PN) là ý niền được quan niệm như thống nhất trực tiếp của khái niệm uới kiện thực của nô trong chừng mute thé thống nhốt này xuất hiện trong c¿ hiện thite vd cdm quan". Câu này cho tạ biết đối tượng, nội dung cò các đặc trưng cúa mỹ học. Đối tượng của mỹ học *Luận +:tiểm 3: Đối tượng của mỹ học. “Đối tượng của mã học là lĩnh uục nghệ thuật, hay đúng hơn 6 PHAN NGỌC nữa, lĩnh vite sáng tác nghệ thuật " Nói khác đi, "mỹ học chỉ nghiên, cứu cái đẹp ở trong nghệ thuật mà thôi".
Nó chỉ là “triết học của sáng tác nghệ thuật. Nó không nghiên cứu cái đẹp nói chung, 0à "ching ta lập tức loại trừ cái đẹp của tự nhiên re khỏi đối tượng của chúng ta. Sở di thế là vi “khong có tiêu chuẩn gÙ" thống nhất các đối tượng đẹp của tự nhiên, các đối tượng này đâu là "huyệt đổi tất yếu”, “bang quan, không tự do uà không tự nhận thức được mình" nà “bất ky do tưởng thám hai nao nay sinh trong đầu óc con ngu@i ciing la cao hơn bất hỳ sáng tạo nào của tự nhiên" “Và xét tê mặt bản chất, bản thân cái đẹp của tự nhiên là nằm trong tính thân". "Cái đẹp trong tự nhiên chỉ là phản ảnh cái đẹp thuộc về tính thân.” Mác cũng nhận thấy một sự đối lập như vậy khi so sánh lao động của con người cới lao động của con ong, Nhà mỹ học duy tật Secnusepxkí đã nhận xót về Luận điểm này: “TW tưởng vi dai làm sao! Giá cái tư tưởng đã được phát triển đẹp đề ở đây được dùng làm từ tưởng cơ bản thay cho việc tìm tòi quái đẳn sự toàn tẹn của cái ý niệm được biểu hiện thì mỹ học của Hêghen sẽ hay biết mấy!” 1.
Nội dưng của mỹ học. Nội dung cdi dep là ý niệm. Ý niệm không phải là đối lập lại hiện thực, mà trúi lại: -* Luận diễn 3: Ý niệm là hiện thực cá tính hóa. “Ý niệm uới tính cách cái đẹp nghệ thuật là ý niện: có một đặc tính loại biệt sau đây: nó là một liện thực đã được cá tính hóa.
Nói khác đi, nó là một biểu biện cú biệt của hiện thực có được cói đặc tính loại biệt là biểu lộ được ý niệm qua bản thân. Như uậy, chúng ta dé nêu lên yêu cầu sau đây: ý niện cà sự" biểu hiện của nó, tức là cái hiện thực cụ thể của nó phải hoàn toàn phù hợp ới nhau, Nếu quan niện nhit vay, thì ý niệm tới tính cách hiện thực, đã có được cái hình thức tương ứng với khái niệm của mình làm thành lý tưởng”. MỸ HỌC CỦA HÊGHEN 1 Héghen con goi đó la: “ly tưởng là "tính thân) là “te tưởng “là “chiên, ngưỡng nội tâm”, là "những sức mạnh phổ biến”, là “hoat động con người”, thậm chí là "thân lính ". Cách gọi tuy khác nhau tố nhưng đó đêu là những thuật ngữ của ông chứa đựng một yếu chưng là một hiện thực nói lên được một tinh than họat động tích cực, tự do uà tự giác của con người.
Những đặc trưng của ý niệm cái đẹp Đặc trưng cốt tử nhất của cái đẹp lò ngoại hiện va ngoại hiện phải thống nhất hữu cơ uới khái niém. “Luan diém 4: Tính cốt tử của ngoại hiện (Schein). “Nghệ thuật sống ở ngoại hiện.” Ngoại hiện (ta goi là hình thức) không phải là cái hừnh thức "ngẫu nhiên, hỗn mang", không phải là "sự lửa déi tan nhân", hay "ngoại hiện trần truéng’, khong phải là “hư tưởng". "Ngoại hiện là một hiện tượng chân thực 0ò hiện thực “ Sở dĩ nó chân thực, uù nó là cái ngoạt hiện có tính chất tỉnh thân", "Cái đẹp uề cái chân thực chỉ là một”.
* Luận điểm 6: Tính tùnh thân của ngoại hiện “Tịnh thần nhận ra được mình ở trong cái trang thai bên ngodi va di thé hod (Entausserung) thành cứm quan 0è tình cắm”. Như vay là ngoại hiện, côn quan, tink cảm đêu tà tỉnh thân dưới một trạng thái tên tại khác có tê như không phải tính thân. * Luận điểm 6: Tỉnh khách quan của ngoạt hiện. “Khái niện không cho phép mặt bên ngoài của cái đẹp tự do tuân theo những quy tắc tiêng; trúi lại, chính khái niệm quy định mặt bên ngoài phả! biểu biện tới diện mạo sự nào tà chính bằng cách ấy mà khái niện thực hiện được La ở sự nhất trí với mình, mà bản chất của cát đẹp lại chính nhất trí ấy" trí Như vay là nội dung quy định hình thức oà sự nhất dung.
giữa nội dung uà hình thức là sự nhất trí ở nội nội "Boi vi cling nhu trong moi viée lam của con người, Nghệ thuật phải phù hợp cới dung van la cái quyết định. 8 PHAN NGỌC khái niệm của mình chỉ có nhiệm vụ thể hiện nội dung dưới một hành thức tôn tại cắm quan ăn khớp uới nội dụng” Ludn điểm này dân tới Luận điển 7 lò tinh tất yếu-tự do của hình thức. Khái niệm "tự do" của Haghen chỉ có nghĩa là “tính tất yếu được nhận thúc”, khúc xa khái niệm tự do của mỹ học tử sản lãng mạn. * Luận diểm 7: Tính ti yếu-tự do của ngoại hiện.
"Ở trong một đối tượng đẹp phải có hai thành tốt tính tất yếu do khói niệm nêu lên ở trong mỗi quan hệ qua lại của các mặt khác nhau và cái uẻ bên ngoài tự do của chúng khiến ta thấy các một cá biệt này tốn tại uì bản thân mình chứ không phải để phục uụ cái thể thông nhất". Luận điển này dẫn tới hệ luận là ngoại hiện phải có cdi vé tuyét đối tự do đến niức độ người ta tưởng chừng như nó tự minh tên tại uà cho mình mà không lệ thuộc uào cái gì hết: "Tính tất yếu phái ẩn nấp dưới một điều ngẫu nhiên không có chủ ý". “Cái đẹp là tô hạn tò tự do ở bản thân nìình. Nếu như cái đẹp có thể có một nội dụng đặc thù où, do đó hạn chế, thì nội dung ấy phải làm thành một tổng thé uô bạn ở chữnh nữnh tà phải có một tôn tại tự do" 14 Tính nhận thức của cói đẹp.
Một đóng góp uô giá của Héghen vé my hoc la éng dé cao tét bực giá trị nhận thức của nghệ thuật. *Luận điểm 8: Nội dung nhận thúc của nghệ thuật. “Nghệ thuật cùng đánh giá mình cao thì nó càng phải tiếp thu cái nội dung ấy (nhận thức - PN), uè chỉ ở trong bản chất của nội dung ấy nó mới tìm thấy những tiêu chuẩn để đánh giá một cách tích cực hay tiêu cực những điều được biểu hiện ở trong nghệ thuật. Nghệ thuật thực sự đã trở thành tị thầy cao nhất của các dân tộc” Hêghen có một câu đây ý nghĩa báo trước lý luận phản ánh: "Các đân tộc đã bý thác uàu súng tác nghệ thuật những chiêm ngưỡng nội tâm cà những biểu tượng của mình.
Nghệ MỸ HOC CUA HEGHEN 9 thudt thường tà một, cái chia khoá, uề ở một uài dân tộc, đó tà cái chìa khoá duy nhất để hiểu sự khôn ngoan sáng suốt vò tôn giáo của họ” Một khi lấy nhận thức làm tiêu chuẩn đánh giá, Hêghen tất yếu đi đến tính khách quan của mỹ học. * Luận điểm 9: Tính khách quan của mỹ học. mỗi tác phẩm nghệ thuật đều thuộc uào thời đại của nó, dân tộc của nó , môi trường của nó tà lệ thuộc uào những mục đích lich sử đặc biệt, cũng như lệ thuộc uào những quan niệm cô những mục dích khác". 20 Mầm mống của quan niệm thực tiên trong my hoc Héghen.
Triết học trước Hêghen là siêu hình uk nó xen: cái tôi chủ quan va thế giới thực tiền là đối lập nhau, trong cái thế giới bên ngoài không có tôi va trong tôi không có cái thế giới bên ngoài. Do đó, ta có nhị nguyên luận duy tâm hay duy uật máy móc. Triết hoc Héghen là biện chứng: thé giới bên ngoài chuyển hóa thành cói tôi (ý niện) tờ ngượp lai, cái tôi (ý niệm) thông qua thực tiễn chuyển hóa thành thế giới bên ngoài: “Cũng như con người là một tổng thể chủ quan ở trong bản thân ninh, uà vi uậy mà tách ra khỏi cái thế giới bên ngoài; cũng cậy, cái thế giới bên ngoài là một tổng thể hoàn mộ uà hoàn toàn phong bế Ở bản thân mình. Mặc dầu loại trừ nhau, cả hai thế giới này uẫn ở trong một quan hệ có tính bẳn chất uà chỉ trong mối quan hệ giữa hai thé giới ấy mới thành hiện thực cụ thể uà thành sự biểu hiện hiện thực của mình tạo nên nội dung của lý tuằng"”.
Miêu tả chỉ li, tỉ mũ, tự nhiên chủ nghĩa theo Hôêghen là "trừu tượng" Trái lại, khí cái tôi nói lên được cái thế giới bên ngoài thi Héghen goi là "cụ thể”, uà khả biện thực được nuiêu tả sao cho nó nói lên cái tôi thì ông gọi là “te nhién cu thé.” Chính quan niệm quan hệ biện chứng này uê điển con người tạo ra chính mình cà tạo ra thế giới bằng lao động là cơ sở cho một loạt luận điển đáng chú ý mà cho đến nay cũng không mấy người nhận thúc được. *Luận điểm 10: Nguôn gốc của nghệ thuật là sự nhân đôi mink lên của con người.