Chương 1, 2, 3 luận văn sẽ phân tích những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất khuyến nghị về việc tác động đến mức độ hài lòng về đời sống kinh tế của người dân đô thị thành phố Hà Nội hiện nay theo hướng tích cực góp phần ổn định gia đình, phát triển kinh tế xã hội. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm công cụ 1.
Sự hài lòng, mức độ hài lòng Theo Richard L. Oliver “Sự hài lòng là sự phản ứng cảm xúc của chủ thể đối với việc được đáp ứng những mong muốn, nhu cầu của chính chủ thể đó”. [23] Philip Kotler và Roberta N. Clarke đã định nghĩa: “Sự hài lòng là một trạng thái cảm xúc của một người trải nghiệm một vấn đề nào đó hoặc đạt được các kết quả một cách mỹ mãn như mong đợi”.
Theo Zeithaml and Bitner (2000), sự hài lòng là sự đánh giá về nhu cầu và mong đợi của họ. Sự hài lòng là các mức độ liên quan đến nhau về những điều mong muốn và nhận thức được. Mặt khác, Carey, Cambiano and De Vore (2002), tin rằng sự hài lòng thật sự bao trùm các vấn đề về nhận thức và trải nghiệm của chủ thể đối với vấn đề họ quan tâm. Đánh giá hay đo lường về mức độ hài lòng là sự đo lường chủ quan nhưng lại là một phép đo hữu ích, cung cấp những nhận định mang tính cá nhân về các khía cạnh cơ bản của cuộc sống.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng. Tuy nhiên, sự hài lòng theo quan điểm trong nghiên cứu này có thể được giải thích là mức độ cảm nhận, tự đánh giá sự thỏa mãn, hài lòng của người dân đô thị đối với đời sống kinh tế của gia đình họ hiện nay. Sự hài lòng nghề nghiệp, việc làm được hiểu là cảm xúc chủ quan của các cá nhân đối với nghề nghiệp, việc làm của họ. Nó là cảm giác thỏa mãn hay không thoản mãn với yêu cầu cơ bản về các yếu tố liên quan đến công việc của cá nhân mỗi người, sự hài lòng đề nghề nghiệp nói riêng và hài lòng về đời sống kinh tế nói chung là bao gồm cả xúc cảm, tâm trạng, sự tin tưởng và thái độ của người đó.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với góc nhìn của Xã hội học, thông qua các quá trình xã hội hóa, tương tác xã hội, tác động của các thiết chế xung quanh mà các cá nhân học hỏi và thực hiện các vai trò xã hội. Chính từ đó mỗi cá nhân có thể định hình cho mình những tiêu chuẩn, chuẩn mực của cá nhân mình. Tuy nhiên, có những yếu tố môi trường xã hội có tác động đến hệ thống các tiêu chuẩn các chuẩn mực mà do vậy mỗi cá nhân có sự tự đánh giá và hài lòng với cuộc sống, đời sống kinh tế của bản thân và gia đình mình. Đô thị, Người dân đô thị “Đô thị là không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp sống và làm việc theo kiểu thành thị”.12 - 48] Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy định riêng tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều đều thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản: Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên 3000 người/km2 trong phạm vi nội thị. Cơ cấu lao động: Trên 65% lao động là phi nông nghiệp. Đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có số dân từ 2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên chủ nghĩa xã hội. Thủ đô Hà Nội là đô thị đặc biệt của Việt Nam, Thế giới đang ngày càng trở thành một thế giới của các đô thị. Đô thị đang ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dân cư đô thì mang các đặc trưng của xã hội đô thị, lối sống đô thị. Wirth, “người dân đô thị tiếp xúc với nhau trong các vai trò đã bị cắt rời, không phải trong những quan hệ có liên quan đến toàn bộ con người. Họ có những công việc chuyên môn hóa cao. Những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt địa vị xã hội của họ cực kỳ quan trọng.
Những cơ chế kiểm soát xã hội chính thức quan trọng hơn những cơ chế không chính thức. Đời sống đô thị của người dân đô thị qua lăng kính của Wirth là những con người ẩn danh, tách biệt khỏi những người xung quanh và nếu nó có liên quan đến người khác thì chủ yếu là để tăng tối đa lợi ích kinh tế cá nhân của họ. 129 - 143] Người dân đô thị hay cư dân đô thị là nhóm người hiện đang cư trú, sinh sống và làm việc trên địa bàn đô thị trong một khoảng thời gian nhất định. Chiến lược sống của các gia đình đô thị khi các hoạt động tạo thu nhập phần nhiều mang tính chất ngắn hạn, dễ thay đổi, các gia đình đô thị đầu tư khá nhiều cho việc học hành của con cái và đầu tư vào các mục tiêu dài hạn.
Người dân đô thị hiện nay đang ngày càng chịu nhiều áp lực cuộc sống như vấn về nghề nghiệp, việc làm, thu nhập và chi tiêu. Do đó mà họ là đối tượng khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Đời sống kinh tế gia đình Khái niệm đời sống kinh tế gia đình là một khái niệm rộng bao gồm nhiều các khái niệm liên quan như: Nghề nghiệp - việc làm, thu nhập và chi tiêu, đầu tư hay tích lũy gia đình. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghề nghiệp là một khái niệm rất rộng tuy nhiên có thể hiểu nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời… Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn.
Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Theo thông kê của ILO, trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40. Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”.
Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác. Hơn nữa, các 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa.
Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 của Việt Nam là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 7 - 8%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3. Chiến lược lần này đưa ra một số chỉ tiêu về chất lượng như xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hiệu quả, tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30-35% lao động xã hội; giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP.
Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp; yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 30-35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5 - 3%/năm. Chiến lược về xây dựng và phát triển kinh tế gia đình có tiêu cụ thể đến năm 2015 là 87% và đến năm 2020 là 90% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.