Chương 1: Giới thiệu: Chương này sẽ trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Chương này sẽ trình bày các khái niệm thu nhập, thu nhập hộ gia đình, tiền lương, nông thôn mới, các lý thuyết liên quan đến thu nhập, thu nhập hộ gia đình, tiền lương và nông thôn mới, phát triển nông thôn. Các nghiên cứu trước và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; chương này sẽ trình bày khái quát về tình hình kinh tế- xã hội huyện Bình Chánh và phương pháp thực hiện nghiên cứu, đưa ra mô hình nghiên cứu cho đề tài, đồng thời trình bày cách thức thu thập dữ liệu và mẫu nghiên cứu.
6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu: phân tích kết quả thống kê mô tả, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng, xác định các nhân tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình trên địa bàn các xã; đồng thời tìm ra sự khác biệt thu nhập giữa hộ ở xả đạt chuẩn và xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Chánh. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác giả sẽ tóm tắt kết quả và khuyến nghị một số giải pháp để nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trên địa bàn 14 xã tham gia nông thôn mới huyện Bình Chánh. Đồng thời, phần cuối chương cũng nêu ra một số hạn chế của nghiên cứu này cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ền tảng của m i nghiên cứu là cơ sở l thu ết để phục vụ phát triển tưởng nghiên cứu.
Chương nà sẽ đề cập đến nh ng hái niệm cơ ản nhất c liên quan đến vấn đề nghiên cứu như Trình à các hái niệm, các lý thuyết liên quan đến thu nhập, thu nhập hộ gia đình, tiền lương và nông thôn mới, phát triển nông thôn…là một ước đầu tiên để xác định các yếu tố cần thiết trong mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương sau.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm thu nhập Theo Gallo (2002), định nghĩa được chấp nhận rộng rãi trong kinh tế của thu nhập cá nhân là số tiền, trong một thời gian nhất định, mà một cá nhân có thể chi tiêu tiêu dùng mà không thay đổi giá trị của cải của mình. Số tiền mà cá nhân nhận được trong một thời gian nhất định sẽ là thu nhập tiền chỉ trong trường hợp cá nhân này đã tiêu dùng tất cả số tiền nhận được trong khoảng thời gian đó mà không tiết kiệm. Nếu cá nhân tiết kiệm một phần tiền nhận được, chỉ có một phần dành để chi thì thu nhập nhận được lớn hơn chi phí sinh hoạt. Nếu cá nhân không tiết kiệm nhưng vay mượn, tất cả số tiền nhận được sẽ là thu nhập tiền và nó sẽ ít hơn so với chi phí sinh hoạt.
Cục Thống Kê Thành phố Hồ Chí Minh (2017) thu nhập là tổng giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một đơn vị thời gian. Thu nhập bình quân hộ (TNBQH) 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong cả 1 năm của tổng tất cả các thành viên của hộ đó cho 12 tháng. Chương và Quỳnh (2015) nhận định các phương pháp hạch toán thu nhập quốc dân được xác định thông qua sử dụng Hệ thống tài khoản quốc gia. Theo đó, thu nhập quốc dân là tổng các loại hình thu nhập bao gồm tổng các khoản lương, tiền thuê, tiền lãi, lợi nhuận và thu nhập của những người chủ sở hữu.
Theo tiếp cận của kinh tế học vi mô, thu nhập là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra. Thu nhập bao gồm thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương bao gồm cả lương hưu…), thu nhập 8 hoạt động tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán…), thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập khác (tiền lương, tiền/quà biếu…). Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà một người hay một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).2 Khái niệm Thu nhập Hộ gia đình Theo Nguyễn Hải (1995) cho rằng thu nhập hộ gia đình bao gồm các khoản thu được do lao động như tiền lương, tiền công hay thù lao lao động (bằng tiền hoặc hiện vật) và các khoản thu nhập được khác như: trợ cấp các loại, học bổng, các khoản chuyển nhượng, thu được do trúng sổ xố và lãi tiết kiệm. Theo Stephen Professor Jenkins và cộng sự (2013) Lựa chọn hàng đầu cho định nghĩa thu nhập hộ gia đình được sử dụng trong số liệu thống kê thu nhập chính thức của nhiều quốc gia, cụ thể là tổng thu nhập hộ gia đình bao gồm các khoản trợ cấp tiền mặt từ tiểu bang và sau khi khấu trừ thuế trực tiếp.
Tổng cục thống kê (2014) thì Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình (2012), thu nhập hộ gia đình bao gồm các khoản: Tiền công, tiền lương; Thu từ hoạt động sản xuất tự làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; Thu từ hoạt động ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản của hộ; Thu khác. Theo Barrett, Readon và Webb (2011) các nguồn thu nhập của hộ có thể được phân loại theo ba tiêu chí: phân loại theo lĩnh vực (nông nghiệp và phi nông nghiệp), phân loại theo chức năng (làm công ăn lương và tự tạo việc làm), phân loại theo không gian (làm tại địa phương và di cư).3 Khái niệm Tiền lƣơng, tiền công Theo từ điển Webster (2014) Lương là một khoản tiền mà người lao động được trả hàng năm hay là một khoản bồi thường được trả thường xuyên cho các dịch vụ. 9 Theo ILO: “ Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp qui quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”.
Theo Nguyễn Tiệp và cộng sự (2006): “ Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của Pháp luật lao động”.4 Khái niệm Nông thôn mới Theo Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM, NTM là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn. Nông thôn mới có kinh tế phát triển bền vững, toàn diện, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình văn minh, sạch đẹp; giúp nông dân có niềm tin trở lại, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp… Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM, quy định xã đạt chuẩn NTM là xã đảm bảo đạt 19 tiêu chí: thu nhập, Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, 10 thủy lợi, giao thông, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, , hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, môi trường , văn hóa, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội 2.1 Lịch sử phát triển nông thôn mới ở nước ta. Xây dựng nông thôn mới (NTM) là nền tảng để phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp, giải quyết căn bản các vấn đề về nông dân. Cách đây 6o năm, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Xây dựng NTM đã được Đảng ta đưa vào đường lối phát triển KT-XH đất nước.
Vĩnh Phúc, Hải Phòng là hai địa phương thử nghiệm đầu tiên (1981), nông nghiệp bắt đầu thí điểm đổi mới, thực hiện cơ chế khoán đến nhóm và người lao động bằng Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/01/1981. Động lực mới đươc tạo ra từ “Khoán 100” trong các HTX nông nghiệp góp phần mở ra thời kỳ Đổi Mới đất nước từ năm 1986, được tiếp tục được bồi đắp, hoàn thiện trở thành “Khoán 10” năm 1988. Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998 về một số vấn đề nông nghiệp và nông thôn. Bên cạnh Chỉ thị số 30- CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Tiếp đến, năm 2001, Ban Kinh tế Trung ương và Bộ NN&PTNT chỉ đạo triển khai Chương trình phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH, hợp tác hóa, dân chủ hóa. Đây có thể được xem là chương trình thí điểm xây dựng NTM đầu tiên ở nước ta.