Chương 1. Môi trường Chương 2. Tài nguyên thiên nhiên Chương 3. Biến đổi khí hậu và các tác động của chúng đối với môi trường Chương 4.
Khái niệm về phát triển và các mối quan hệ Chương 5. Phát triển bền vững Chương 6. Kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam. Thông qua đó đã có những cái nhìn khái quát về mối quan hệ trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trong giai đoạn hiện nay.
Các tác giả đã đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng vấn đề phát triển bền vững của các quốc gia hiện nay trong đó có một mục tiêu, định hướng cơ bản đó là nền kinh tế xanh cho sự phát triển. Từ những thực trạng đó, các tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm định hướng cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội kết hợp bảo vệ môi trường, cơ cấu lại nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay hướng tới mục tiêu là phát triển bền vững. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng trong vấn đề phát triển kinh tế luôn nhấn mạnh đến yêu cầu phải đảm bảo vấn đề môi trường được giải quyết tốt, hướng đến một nền kinh tế xanh cho phát triển bền vững. Trong phần này, tác giả nêu lên một số những công trình nhằm đưa ra một cái nhìn bao quát về thực trạng trong quá trình tăng trưởng kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường ở ĐBSCL, trong đó có một số bài viết như: “Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ vùng ĐBSCL” của Đỗ Vũ Bình, Tạp chí Hoạt động khoa học (số 1/2009) trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng trong 15 việc cần thiết phải phát triển vùng ĐBSCL bằng việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động nhằm hướng tới xây dựng vùng ĐBSCL thành một trong những vùng trọng điểm về kinh tế của cả nước.
“Thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân ở một số tỉnh ĐBSCL” của Trần Kim Dung, Tạp chí Khoa học chính trị, (số 4) năm 2002; “Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của ĐBSCL trong xu thế hội nhập” của Nguyễn Thị Mỹ Dung, Cung Thị Tuyết Mai, Tạp chí Ngân hàng (số 8) năm 2009; “Đào tạo nguồn nhân lực cho ĐBSCL: Thực trạng và giải pháp của Phan Văn Nhẫn, Tạp chí Giáo dục (số 118) năm 2005,… các bài viết này đã đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, đồng thời nhấn mạnh đến nhân tố con người tại vùng ĐBSCL. Với cơ cấu dân số trẻ và lực lượng lao động hết sức đông đảo đã trở thành tiềm năng, thế mạnh của vùng cho sự phát triển kinh tế. Đây là yếu tố quyết định trong sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi thì các bài viết cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế của nguồn lực con người ở vùng ĐBSCL như nguồn nhân lực dồi dào song trình độ lao động còn có nhiều hạn chế, trình độ chuyên môn chưa cao.
Cơ cấu dân số trẻ cùng lực lượng lao động đông đảo song chủ yếu tập trung trong các ngành liên quan đến nông nghiệp chứ rất ít lao động hoạt động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ do trình độ còn hạn chế. Các bài viết đã đề cập đến những vấn đề vướng mắc của các doanh nghiệp tư nhân trong thu hút và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ. Từ những thực trạng trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số những giải pháp cơ bản nhằm phát triển và nâng cao hơn nữa nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL. Cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, để phát triển mạnh về kinh tế thì Đảng và Nhà nước ta đang đưa ra những chính sách và định hướng phát triển, tăng trưởng kinh tế theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tùy theo từng địa bàn, từng vùng và từng tỉnh khác nhau để đưa ra những giải pháp 16 chuyển dịch hướng đến sự phát triển một cách cân đối, hài hòa giữa các ngành công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ. Hiện nay, ĐBSCL cũng đang có sự chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển kinh tế bền vững, trong đó chuyển dần từ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo chiều sâu, đồng thời tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Một mặt vẫn duy trì, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, xây dựng các vùng trọng điểm trong phát triển nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, thực hiện xanh hóa trong nông nghiệp theo hướng toàn diện, an toàn và bền vững, gắn phát triển nông nghiệp với vấn đề xây dựng nông thôn mới. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số những bài viết về vấn đề này như: “ĐBSCL cần sự chuyển hướng chiến lược kinh tế” của Võ Hùng Dũng, Tạp chí nghiên cứu kinh tế (số 308/2004; “Chiến lược phát triển kinh tế ĐBSCL” của Võ Hùng Dũng Tạp chí nghiên cứu kinh tế (số 7,8/ 2007).
Bên cạnh vấn đề chuyển dịch, phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì ĐBSCL có nhiều thuận lợi để phát triển ngành du lịch. Với hệ thống sông ngòi dày đặc, hệ sinh thái phong phú, đa dạng, giao thông thuận lợi cho việc phát triển các ngành du lịch, dịch vụ, trong đó tiêu biểu là sự kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch ở Vĩnh Long. Người nông dân cùng với chính quyền đã kết hợp để làm thành công mô hình du lịch sinh thái, thúc đẩy phát triển cả nông nghiệp và dịch vụ, mang lại thu nhập cao cho người dân, đây là mô hình cần phải được nhân rộng ở ĐBSCL nhằm vừa thực hiện phát triển nông nghiệp công nghệ cao, vừa phát triển du lịch cho toàn vùng được thể hiện ở một số ấn phẩm: “Từ cách làm du lịch sinh thái của nông dân Vĩnh Long, nghĩ về sự phát triển du lịch ĐBSCL” của Phạm Văn Đấu, Tạp chí Cộng sản (số 12) năm 2007. Tác giả đã có những so sánh, đánh giá về cách làm du lịch ở Vĩnh Long để từ đó đưa ra những nhìn nhận có thể áp dụng vào ĐBSCL.
“Ba cánh cửa phát triển ĐBSCL” của Trần Hữu Hiệp, Tạp chí Thương mại (số 16) năm 2007, tác giả trình bày những dự án lớn của ba hướng phát 17 triển kết cấu hạ tầng: hệ thống đường hàng không, đường biển và hướng biên giới Tây Nam của ĐBSCL đến năm 2020. Triển vọng thực hiện và vai trò của chúng đối với khai thác tiềm năng phát triển của vùng. Công trình “Góp phần hình thành tư duy mới về liên kết phát triển kinh tế vùng ĐBSCL” Trần Hữu Hiệp, Tạp chí Cộng sản – chuyên đề cơ sở (số 94) năm 2014, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên kết phát triển kinh tế vùng ĐBSCL thời gian qua; Chỉ rõ một số vấn đề bất cập đang nổi lên trong vấn đề phát triển kinh tế của vùng, đưa ra một số những gợi ý về cải cách thể chế và chính sách. “Mấy đề xuất cụ thể để phát triển kinh tế-xã hội ĐBSCL” của Trần Khuyết Nghị, Tạp chí phát triển kinh tế (số7) năm 2007, bài viết nêu 5 vấn đề cần được xem xét kỹ để từ đó đưa ra hàng loạt giải pháp cụ thể cho từng vấn đề một, đó là: phát triển giáo dục, phát triển y tế, vấn đề dân tộc, tôn giáo và xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh ở ĐBSCL.
“Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư vùng ĐBSCL giai đoạn 2010-2020” của Hoàng Ngọc Phong, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 2) năm 2010, bài viết phân tích tiềm năng và lợi thế của ĐBSCL. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm và giải pháp chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đầu tư trong vùng. Ở Việt Nam, nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, nông nghiệp lại càng khẳng định được tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội lần thứ XI và Đại hội lần thứ XII của Đảng đều nhấn mạnh chủ trương: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp”; “đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp”, “chủ động triển khai một bước các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu” [87, tr. Là vùng trọng điểm của cả nước về nhiều mặt, ĐBSCL có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế mà nhất là kinh tế nông nghiệp. Song, ĐBSCL đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Chính vì vậy, một số nhà nghiên 18 cứu đã có những nhận định, nghiên cứu, đánh giá về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp của vùng, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp để từ đó đưa ra một số những giải pháp nhằm thúc đẩy và phát triển nông nghiệp của vùng như: “Một số vấn đề đặt ra sau 30 năm phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL” của Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Cộng sản (số 22) năm 2005.
Bài viết đã đưa ra những thành tựu và hạn chế cơ bản của vùng ĐBSCL về phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, đồng thời đưa ra một số những giải pháp nhằm phát triển kinh tế của vùng trong giai đoạn cả nước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, một số những công trình tiêu biểu khác như: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL 30 năm đổi mới của Vũ Văn Phúc, Nguyễn Minh Hợp, Nguyễn Thanh Sơn,., 2015), các tác giả khẳng định: Trong 30 năm qua, kể từ sau Đại hội đại biểu toàn lần thứ VI của Đảng, kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có chuyển biến tích cực. Trong đó, có sự đóng góp quan trọng của nông nghiệp vùng ĐBSCL. Sản xuất nông sản hàng hóa phát triển với quy mô ngày càng lớn, tạo ra những vùng chuyên canh nông sản, góp phần tăng thu nhập cho nông dân; nhiều mô hình sản xuất tập trung quy mô lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao đã và đang ngày càng phát triển.