CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU Trong khuôn khổ một nền kinh tế mở, nhất là đối với một nền kinh tế có quy mô nhỏ và đang phát triển như Việt Nam, mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cả trong nước là một trong những yếu tố then chốt đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ. Trong vài thập kỷ gần đây, đã có nhiều công trình ở trong và ngoài nước nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát. Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào mối quan hệ tuyến tính, các nhà mô hình khi đối mặt với các trường hợp phi tuyến thường xử lý bằng cách lấy xấp xỉ tuyến tính. Nhưng trên thực tế, từ cuối những năm 1990 đến nay việc áp dụng mô hình chuỗi thời gian tuyến tính trong phân tích thực nghiệm về tài chính và kinh tế vĩ mô không còn phù hợp đối với những quốc gia trải qua những thay đổi trong thể chế chính sách, sự phát triển của hệ thống tài chính, xu hướng hội nhập, khủng hoảng dầu mỏ, biến động chu kỳ kinh tế, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và thậm chí là sự can thiệp chính sách của chính phủ trong điều tiết kinh tế.
Những tác động như vậy ít nhiều đã gây ra những thay đổi cấu trúc dữ liệu của các biến hệ thống tài chính cũng như các biến kinh tế vĩ mô, làm cho các chuỗi dữ liệu xuất hiện quan hệ phi tuyến. Bởi thế, việc áp dụng các mô hình tuyến tính để giải thích các mối quan hệ kinh tế vĩ mô hiện nay chỉ giải quyết được một số các trường hợp riêng lẻ. Vì vậy luận văn này sử dụng mô hình chuỗi thời gian phi tuyến để nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam. Sự truyền dẫn tỷ giá đến các mức giá là một vấn đề quan trọng trong các thảo luận về những chính sách tỷ giá và tiền tệ.
Những lý thuyết truyền thống cho rằng sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là ngoại sinh đối với chính sách tiền tệ. Một quan điểm thay thế đã được đưa ra bởi J. Taylor (2000), ông cho rằng sự sụt giảm trong truyền dẫn tỷ giá vào các mức giá là do môi trường lạm phát thấp. Taylor giải thích sự tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn trong điều kiện các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền và thiết lập giá thay đổi.
Một doanh nghiệp thiết lập các mức giá trước cho một vài kỳ, các mức giá này dễ dàng thay đổi hơn đối với sự gia tăng chi 3 phí (do tỷ giá giảm hoặc nguồn gốc khác) nếu chi phí thay đổi được coi là dai dẳng hơn. Môi trường lạm phát cao có khuynh hướng làm cho các chi phí dai dẳng hơn, do đó môi trường lạm phát cao sẽ làm tăng sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Gần đây, vấn đề phi tuyến là một trong các chủ đề đang phát triển trong lý thuyết truyền dẫn tỷ giá. Trong thực tế, có nhiều trường hợp khác nhau có thể tạo ra sự điều chỉnh bất cân xứng của giá cả đối với những thay đổi tỷ giá mà chúng ta không thể mô hình hóa được trong khuôn khổ tuyến tính.
Những nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn phi tuyến còn khá ít ỏi. Trong đó hai mô hình phi tuyến phổ biến có thể kể đến, thứ nhất là mô hình hồi quy ngưỡng mà sự chuyển tiếp thông qua cơ chế thay đổi đột ngột. Thứ hai, mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn (STR) với sự chuyển tiếp giữa các cơ chế mượt mà hơn. Liên quan đến mô hình STR, có 2 nghiên cứu về ERPT bằng mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn.
Shintani và cộng sự (2013) đã ước lượng ERPT vào giá cả trong nước ở Mỹ. Họ tìm thấy rằng thời kỳ ERPT thấp có liên quan đến môi trường lạm phát thấp. Một nghiên cứu đầy đủ hơn, Nogueira Jr. và Leon-Ledesma (2008) đã kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa ERPT và lạm phát ở một loạt các quốc gia khác nhau.
Họ đã tìm thấy sự điều chỉnh bất cân xứng của các chỉ số giá đối với những thay đổi trong tỷ giá hối đoái, và nguyên nhân là do các yếu tố vĩ mô, bao gồm tỷ lệ lạm phát, độ lớn thay đổi tỷ giá, sự bất ổn kinh tế và tăng trưởng sản lượng. Mục tiêu của bài này là nghiên cứu giả thuyết của Taylor về mối quan hệ cùng chiều giữa ERPT và lạm phát bằng mô hình ước lượng phi tuyến với dữ liệu chuỗi thời gian. Đặc biệt, luận văn này sử dụng các lớp của mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR) để ước lượng mức độ ERPT vào chỉ số giá tiêu dùng với số liệu trong thời kỳ từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 5 năm 2014. Luận văn chọn thời gian nghiên cứu từ 1995 – 2014 bởi vì, thứ nhất diễn biến của lạm phát trong thời kỳ này chia thành hai giai đoạn, từ 1995 đến 2007 lạm phát thấp và tương đối 4 ổn định, từ sau 2007 đến 2014 lạm phát biến động hơn và theo xu hướng tăng cao hơn.
Thứ hai, để đảm bảo số liệu được thu thập đầy đủ từ các nguồn đáng tin cậy. Với mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời cho hai câu hỏi về truyền dẫn tỷ giá và lạm phát. Thứ nhất là mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát ở Việt Nam là như thế nào. Thứ hai là có hay không sự bất cân xứng của truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát trong trường hợp lạm phát thấp so với lạm phát cao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lạm phát là đồng biến nhưng theo cách phi tuyến. Trong môi trường lạm phát ổn định thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá tiêu dùng là không đáng kể nhưng khi lạm phát tăng lên thì sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái cũng tăng lên và đạt mức hoàn toàn khi lạm phát tăng trên một giá trị ngưỡng nhất định. Phần còn lại của luận văn được trình bày như sau. Chương kế tiếp sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn tỷ giá cùng với các nguyên nhân có thể dẫn đến sự phi tuyến trong ERPT.
Trong chương này cũng giới thiệu tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái, trong đó có các nghiên cứu gần đây về sự tương quan giữa ERPT và lạm phát bằng các mô hình hồi quy phi tuyến. Chương III giới thiệu lý thuyết mô hình tự hồi quy chuyển tiếp trơn (STAR), mô tả dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn này. Những kết quả nghiên và thảo luận được trình bày trong chương IV. Cuối cùng là phần kết luận được trình bày trong chương V.
5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về truyền dẫn tỷ giá: 2.1 Khái niệm truyền dẫn tỷ giá (ERPT) Theo Goldberg và Knetter (1997), truyền dẫn tỷ giá (ERPT) được xác định như là “phần trăm thay đổi giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ khi tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu thay đổi 1%”. Những thay đổi trong giá nhập khẩu ở một chừng mực nào đó cũng truyền dẫn đến giá sản xuất và giá tiêu dùng từ đó sẽ tác động đến chỉ số lạm phát trong nước nhập khẩu. Do đó, trong luận văn này ERPT được nhìn nhận rộng hơn như là “sự thay đổi của tỷ lệ lạm phát dưới tác động của sự thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa”.2 Các kênh truyền dẫn tỷ giá Theo Goldberg và Knetter (1997) thì có hai kênh truyền dẫn tỷ giá quan trọng: truyền dẫn tỷ giá trực tiếp và gián tiếp. + Kênh truyền dẫn trực tiếp phụ thuộc vào yếu tố của thị trường nước xuất khẩu.
Gọi e là tỷ giá của đồng tiền nội tệ trên một đơn vị đồng ngoại tệ và p* là giá hàng hóa nhập khẩu từ thị trường nước ngoài theo ngoại tệ, thì khi đó e.p* là giá hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng nội tệ. Nếu tỷ giá e tăng nhưng giá p* không thay đổi (trong trường hợp này có nghĩa là đồng nội tệ mất giá) thì giá hàng hóa nhập khẩu theo nội tệ sẽ tăng tương ứng. Kết quả này gọi là truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu. Đến lượt mình, sự tăng lên trong giá nhập khẩu sẽ truyền dẫn vào giá sản xuất, giá tiêu dùng nếu các doanh nghiệp nhập khẩu tăng giá bán đối với nhà sản xuất hàng hóa cuối cùng, và do đó sẽ làm gia tăng lạm phát.
+ Kênh truyền dẫn gián tiếp của tỷ giá đề cập đến tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế. Một sự giảm sút trong tỷ giá làm cho sản phẩm nội địa trở nên rẻ hơn đối với người tiêu dùng nước ngoài và hệ quả là xuất khẩu và tổng cầu 6 sẽ tăng dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa. Bởi vì những hợp đồng lương danh nghĩa được cố định trong ngắn hạn, tiền lương thực tế giảm và sản lượng sẽ tăng. Tuy nhiên khi tiền lương thực tế được đẩy lên theo thời gian, chi phí sản xuất sẽ tăng, mức giá tổng thể sẽ tăng và sản lượng giảm.
Do đó, cuối cùng sự giảm sút trong tỷ giá về lâu dài sẽ tác động đến chỉ sổ giá trong nước. 7 Hình 1 :Sự truyền dẫn từ sụt giảm tỷ giá đến giá tiêu dùng Tỷ giá gảm Tác động trực tiếp Tác động gián tiếp Nguyên liệu Hàng hóa thành Nhu cầu Cầu xuất nhập khẩu trở phẩm nhập trong nước khẩu tăng nên đắt hơn khẩu trở nên đối với hàng lên đắt hơn thay thế Cầu lao Chi phí sản động tăng xuất gia tăng lên Hàng hóa thay thế và xuất khẩu trở nên đắt hơn Tiền lương tăng Giá tiêu dùng gia tăng Nguồn: Laflèche (1996) 8 Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ERPT, tuy nhiên hầu hết đều tập trung giải thích sự tác động của ERPT đến chỉ số giá, mức độ ảnh hưởng của ERPT đến lạm phát với giả định được ngầm hiểu sự tương tác của ERPT là tuyến tính. Nhưng thực tế, có nhiều lý do làm cho hành vi của ERPT là phi tuyến và bất cân xứng. Chúng ta sẽ nhận diện những nguyên nhân này từ các công trình nghiên cứu trước ngay sau đây.3 Tại sao truyền dẫn tỷ giá có thể là phi tuyến? Các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái.