Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các nghiên cứu về vàng và các tài sản khác Vàng là một trong những kim loại quý được quan tâm nhiều nhất do vai trò nổi bật của chúng trong cả giới đầu tư và tiêu dùng. Mặc dù không còn được sử dụng như một phương thức tiền tệ chính ở các nước, nhưng vàng tiếp tục tác động mạnh đến giá trị của tiền tệ ở các nước. Hơn nữa, có một sự tương quan mạnh mẽ giữa giá trị của vàng và sức mạnh tiền tệ kinh doanh trên thị trường ngoại hối. Vì vậy trước đây có rất nhiều nghiên cứu về vai trò của vàng trong lĩnh vực tài chính và kinh tế.
Có rất nhiều lý do để người ta đầu tư vào vàng, Ghosh và cộng sự (2004) đã chỉ ra rằng những người mua vàng cho hai mục đích. Đầu tiên là "nhu cầu sử dụng", nơi vàng được sử dụng trực tiếp trong sản xuất đồ trang sức, huy chương, tiền xu, các thành phần khác trong cuộc sống. Thứ hai là "nhu cầu tài sản" đối với vàng, nơi nó được sử dụng bởi các chính phủ, các nhà quản lý quỹ và các cá nhân như một khoản đầu tư. Nhu cầu đối với vàng thể hiện ngoài coi vàng là tài sản truyền thống bên cạnh đó là quan điểm cho rằng vàng cung cấp một "hàng rào" chống lại lạm phát và mất giá đồng nội tệ.
Có thể kể đến có rất nhiều nghiên cứu về vàng như là một phòng ngừa đối với sự biến động của thị trường chứng khoán. Baur và Lucey (2010), đã nghiên cứu trên các thị trường Mỹ và Anh và Đức. Kiểm tra giả thuyết vàng đại diện cho công cụ phòng ngừa hay là nơi trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu và trái phiếu. Các tác giả thấy rằng vàng là công cụ phòng ngừa đối với chứng khoán trong điều kiện thị trường bình thường đồng thời cũng là nơi trú ẩn an toàn trong điều kiện thị trường không ổn định, tuy nhiên việc trú ẩn này chỉ trong thời gian ngắn mà thôi.
Cũng trong năm này tác giả Baur và McDermott (2010), với mục đích là để kiểm tra vai trò của vàng trong hệ thống tài chính toàn cầu. Tác giả kiểm tra giả thuyết rằng vàng đại diện cho một nơi trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu của các nước mới 123doc 7 nổi và đang phát triển mạnh. Một phân tích mô tả và kinh tế cho một mẫu bao trùm một khoảng thời gian 30 năm 1979-2009 cho thấy rằng vàng là công cụ phòng ngừa và một nơi trú ẩn an toàn cho thị trường chứng khoán Châu Âu và Hoa Kỳ, ngoại trừ các nước Úc, Canada, Nhật Bản và các thị trường lớn mới nổi như các nước BRIC. Tác giả cũng phân biệt giữa một hình thức mạnh và yếu của các tài sản an toàn và cho rằng vàng có thể hoạt động như một lực lượng ổn định cho hệ thống tài chính bằng cách giảm tổn thất khi đối mặt với những cú sốc thị trường âm cực.
Gần đây các tác giả Hood và Malik (2013) đã đánh giá vai trò của vàng và các kim loại quý khác liên quan đến biến động như một công cụ phòng ngừa và nơi trú ẩn an toàn bằng cách sử dụng dữ liệu từ các thị trường chứng khoán Mỹ. Sử dụng dữ liệu hàng ngày từ tháng mười năm 1995 đến tháng 11 năm 2010, các tác giả thấy rằng vàng, không giống như các kim loại quý khác, phục vụ như là một công cụ phòng ngừa và một nơi trú ẩn an toàn yếu cho thị trường chứng khoán Mỹ. Tuy nhiên, tác giả thấy rằng các kim loại quý khác phục vụ như một công cụ phòng ngừa rất mạnh và là nơi ẩn náu an toàn mạnh mẽ. Kết quả cho thấy rằng các kim loại quý khác là một công cụ bảo hiểm rủi ro và phục vụ như một nơi trú ẩn an toàn tốt hơn so với vàng trong thời kỳ nghiên cứu của tác giả Các nghiên cứu khác xem vàng như là một công cụ phòng ngừa đối với lạm phát.
Laurent (1994), nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và giá cả hàng hóa bán buôn, để tìm ra vai trò của vàng như công cụ phòng ngừa cho lạm phát trong dài hạn ở Mỹ, Brasil, Pháp, Đức và Nhật. Ghosh và cộng sự (2004), sử dụng suất sinh lợi hàng tháng từ năm 1976 -1999 bằng kỹ thuật hồi quy đồng liên kết. Tác giả đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định vàng có thể là công cụ phòng ngừa lạm phát trong dài hạn. Tiếp đó McCown và Zimmerman (2006) đã cho thấy thay đổi trong lạm phát kỳ vọng tương lai sẽ không dẫn đến thay dổi giá vàng.
Nhà đầu tư không thể dự đoán lãi suất kì vọng chỉ bằng việc nhìn vào giá vàng giao ngay. Blose (2010) đã xem xét liệu sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng đến giá vàng như thế nào? Sử dụng sự thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nghiên cứu đã cho thấy chỉ số CPI không ảnh hưởng đến giá vàng giao 123doc 8 ngay. Kết quả là nhà đầu tư dự đoán những thay đổi kỳ vọng trong lạm phát thì nên thiết kế đầu cơ trong thị trường trái phiếu chứ không phải là thị trường vàng. Gần đây, Joscha và Robert (2013) cũng kiểm chứng liệu vàng có cung cấp khả năng phòng ngừa lạm phát từ khía cạnh mới hay không, sử dụng dữ liệu từ 4 nền kinh tế USA, EU, UK, Japan bằng mô hình động phi tuyến và phân biệt hai trường hợp ngắn hạn và dài hạn của sự thay đổi về thời gian, với dự liệu từ 1/1970 đến tháng 9/2011.
Kết quả cho thấy, về dài hạn vàng có thể phòng ngừa lạm phát trong tương lai (đối với US, UK thì mạnh hơn so với EU và Japan). Tại Việt Nam tác giả Thân Thị Thu Thủy và Lê Thị Thu Hồng (2014) sử dụng số liệu chuỗi chỉ số lạm phát và chỉ số vàng theo thời gian với tần suất tháng, thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2013. Sử dụng kiểm định Granger, kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của lạm phát có ảnh hưởng đến giá vàng và ngược lại sự biến động của giá vàng cũng ảnh hưởng đến lạm phát. Gần đây tác giả Hồ Thị Lam (2015) đã nghiên cứu xem thử liệu đầu tư vào vàng có phải là kênh đầu tư an toàn bảo hiểm cho rủi ro lạm phát ở Việt Nam hay không.
Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích mối quan hệ của vàng với các thành phân fcuar lạm phát bao gồm lạm phát kỳ vọng và ngoài kỳ vọng. Sử dụng dữ liệu giá vàng và lạm phát trong giai đoạn tháng 1/2015 - 4/2015, nghiên cứu tìm thấy đầu tư vào vàng là kênh bảo hiểm an toàn cho rủi ro lạm phát, đặc biệt là lạm phát ngoài kỳ vọng tại Việt Nam. Bên cạnh đó có một vài nghiên cứu khác xem vàng như là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động của giá dầu hay của lãi suất. Reboredo (2013), đã sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên các hàm copulas để phân tích cấu trúc phụ thuộc giữa hai thị trường vàng và giá dầu.
Với mục đích đánh giá vai trò của vàng như một công cụ phòng ngừa hay là nơi trú ẩn an toàn chống lại sự biến động giá dầu. Bằng chứng thực nghiệm cho dữ liệu hàng tuần từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 9 năm 2011 tìm thấy được vai trò của vàng như là kênh trú ấn an toàn đối với giá dầu nhưng không phải là công cụ phòng ngừa rủi ro. Hay Wang và Chueh (2013), tìm thấy trong ngắn hạn vàng và dầu thô ảnh hưởng tích cực lẫn nhau. Về 123doc 9 lâu dài, lãi suất ảnh hưởng đến đồng đô la Mỹ, do đó ảnh hưởng đấn giá dầu thô quốc tế.
Khi cụ dự trữ liên bang Mỹ (FED), giảm lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế, kỳ vọng thị trường sẽ làm cho giá dầu thô biến động. Ngoài ra, có một mối quan hệ truyền giá từ lãi suất đến giá vàng. Giảm lãi suất ảnh hưởng đến kỳ vọng nhà đầu tư liên quan đến việc giảm giá trị đồng USD. Các nhà đầu tư sẽ có xu hướng chuyển vốn sang đầu tư trên thị trường vàng để an toàn vốn hoặc đầu cơ.
Cuối cùng giá vàng và dầu thô có tác dụng phản hồi về lãi suất. Các nghiên cứu về vàng và tiền tệ Việc nghiên cứu về vai trò của vàng như là một công cụ phòng ngừa chống lại các rủi ro biến động tỷ giá hối đoái, đã được một vài tác giả nghiên cứu trước đây. Beckers và Soenen (1984), nghiên cứu sức hấp dẫn của vàng đối với các nhà đầu tư và tính năng phòng ngừa rủi ro của vàng, tìm kiếm việc đa dạng hóa giảm thiểu rủi ro bất đối xứng cho vị thế nắm giữ vàng của các nhà đầu tư Mỹ và các nhà đầu tư bên ngoài nước Mỹ. (Sjasstad và Scacciavillani, 1996; Sjasstad, 2008) khẳng định rằng sự tăng giá hoặc mất giá tiền tệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá vàng, sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá thả nổi Bretton woods là nguyên nhân chính dẫn đến sự bất ổn trong giá vàng thế giới.
Sự tăng giá hay giảm giá USD có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá vàng và các đơn vị tiền tệ khác. Tương tự như vậy, Capie và cộng sự (2005) sử dụng mô hình EGARCH theo suất sinh lợi hàng tuần trong khoảng thời gian từ năm 1971 – 2004, khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá USD và giá vàng, minh chứng cho vàng có thể là một công cụ phòng ngừa hiệu quả cho USD. Wang và Lee (2010) sử dụng mô hình phi tuyến tính TVAR đã xem xét liệu vàng có phải là một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái ở Nhật Bản hay không, sử dụng dữ liệu ở Nhật Bản từ năm 1986- 2007. Bài này sử dụng tỷ lệ mất giá của đồng Yên như một ngưỡng để phân biệt giữa một chế độ mất giá cao và sự mất giá thấp.
Tác giá thấy rằng, khi tỷ lệ mất giá của đồng Yên lớn hơn 2,62%, đầu tư vào vàng có thể tránh được sự mất giá của đồng nội tệ. Vì vậy tác giả kết 123doc 10 luận rằng hiệu quả của vàng như một công cụ phòng ngừa biến động tỷ giá và nó phụ thuộc vào tỷ lệ mất giá của đồng Yên.