Chương 1. Bối cảnh văn hóa văn học Chương 2. Quan niệm văn học của Cao Bá Quát Chương 3. Sáng tác của Cao Bá Quát 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HÓA VĂN HỌC 1.
Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX là thời kỳ diễn ra những chuyển biến to lớn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn phá vỡ tình trạng cát cứ hai miền kéo dài gần hai trăm năm. Sau đó là cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh chấm dứt với sự sụp đổ của nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 đưa nước ta vào thời kỳ thống nhất dưới sự trị vì của triều Nguyễn.
Thời gian lịch sử nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX có một số điểm khác biệt. Tuy nhiên giữa hai mốc thời gian này có nhiều điểm tương đồng về mặt văn hóa xã hội, đặc biệt là văn học. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích những vấn đề có liên quan trực tiếp nội dung luận văn chúng tôi triển khai. Lịch sử triều Nguyễn về cơ bản chia thành hai giai đoạn trước và sau khi Pháp xâm lược.
Niên biểu tác giả Cao Bá Quát (1808 – 1855) nằm trọn trong giai đoạn đầu khi triều Nguyễn độc lập cũng là thời kỳ nhà Nguyễn được đánh giá có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc, trải qua bốn vị vua đầu nhà Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Nguyễn Ánh lên ngôi sau khi đất nước đã thống nhất về cương vực lãnh thổ tiến hành độc tôn Nho giáo để thống nhất chính trị, tư tưởng. Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn và ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống văn hóa xã hội và văn học. Nho giáo trong vai trò là học thuyết chính trị đạo đức gần với người Việt Nam từ lâu đời, qua mấy thế kỷ thăng trầm của lịch sử, sức ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội có những biến đổi nhưng chưa bao giờ mất đi vị trí của mình.
Việc triều Nguyễn tiếp tục dòng mạch độc tôn Nho giáo cũng là điều dễ hiểu. Hơn nữa nội dung cốt lõi của Nho giáo là tam cương, ngũ thường trong đó đề cao nhất mối quan hệ vua tôi, đề cao tư tưởng trung quân, đặt nhà nho vào thế trung thành tuyệt đối với vua. Xã hội Việt Nam suốt hai thế kỷ (XVII - XVIII) chứng kiến sự khủng hoảng cả chính trị lẫn tư tưởng. Trước tình hình đó, Gia Long thống nhất đất nước chọn Nho giáo để thiết lập lại tình trạng ổn định trong tư tưởng chính trị, đạo đức từ triều đình đến toàn xã hội.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Triều Nguyễn đưa ra nhiều chính sách nhằm củng cố chính quyền, tăng cường sự thống nhất đất nước. Gia Long trong vai trò là người khai cơ của triều đại nên những năm đầu phải tập trung củng cố chính quyền từ trung ương đến địa phương. Công cuộc cải cách, phát triển mọi mặt đặt lên vai ông vua thứ hai Minh Mạng. Đây cũng là vị vua được đánh giá cao nhất của triều Nguyễn kéo dài hơn một trăm năm.
Ngay từ thời Gia Long đã chú trọng đến các chính sách thu hút nhân tài làm quan trong triều đình, điều này càng được đẩy mạnh hơn dưới sự trị vì của Minh Mạng. Vua Minh Mạng quan tâm đến vấn đề giáo dục, xây dựng hệ thống các cơ sở giáo dục của triều đình đến các địa phương. Triều đình đặc biệt chú trọng đến việc giảng dạy cho các hoàng tử cho nên các vị vua đều là những người có học vấn cao, bên cạnh đó các hoàng tử anh em với vua cũng là những người học nhiều, thuộc nhiều kinh điển và giáo lý nho gia mà sau này chính các vị vua và các hoàng thân tập hợp với nhau tạo thành dòng văn chương của hoàng tộc nhà Nguyễn. Họ viết văn làm thơ và sử dụng văn thơ là công cụ để tu dưỡng nhân cách và đề cao đạo lý cương thường trong xã hội.
Các ông vua nhà Nguyễn cũng chú trọng việc lập các trường học ở phủ huyện để xây dựng nền giáo dục, mở mang kiến thức và học vấn trong xã hội, thông qua đó đào tạo người tài, quan lại trên nền tảng đề cao tinh thần đạo đức nhà nho duy trì từ những thế hệ trước. Nội dung giáo dục cũng chưa thay đổi so với các thời đại trước. Minh Mạng khẳng định “trước hết phải giảng ngũ kinh và tứ truyện để hiểu rõ nghĩa lý rồi giảng đến sách chư, tử và chư sử để thông hiểu lý sự, cứ mỗi tháng bốn lần khảo hạch hoặc học thêm văn thù phụng mà làm ra bài hỏi về những việc đời nay” [25, tr. Không khí học tập thực hành các luân lý, đạo đức Nho giáo dấy lên mạnh mẽ.
Trong thời đại Nho giáo giữ vị trí chính thống và chi phối hệ tư tưởng thì chắc chắn nội dung việc học không thể khác biệt với tư tưởng Nho giáo, coi trọng lễ nghĩa, coi trọng văn. Văn có vai trò xứ mệnh cao cả, ở vị trí giúp vua dẫn đến quan niệm sùng bái văn chương, sùng bái nội dung về văn trong nền giáo dục. Cùng với việc quan tâm giáo dục thì thiết chế có ý nghĩa quan trọng để tăng cường củng cố cho Nho giáo chính là việc nhà Nguyễn tổ chức các kỳ thi tuyển chọn quan lại bằng con đường văn chương. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển của văn học.
Xuất phát từ quan niệm Nho giáo, văn chương là linh thiêng, có vị trí - chức năng xã hội tạo thành không khí sùng bái văn chương. Nhìn tổng thể văn học nước ta theo chiều dài lịch sử, đặc biệt ở triều Nguyễn khi Nho giáo được độc tôn trở lại thì những yếu tố của cá nhân ít nhiều bị hạn chế, và mở ra sự phát triển mạnh của văn học chính thống hướng về triều đình, phục vụ những giáo lý cơ bản của chế độ quân chủ đề cao vua và đạo đức nhà nho. Lý do chọn văn chương là nội dung khoa cử có quan hệ thống nhất với quan niệm về văn chương. Xuất phát từ cách thức cai trị bằng giáo hóa của nhà nước phong kiến chuyên chế (văn là công cụ thực thi giáo hóa), từ lề lối cai trị, cung cách cai trị của ông quan (sản phẩm của khoa cử), người ta đã chọn văn làm nội dung để chọn người tài, lấy văn làm thước đo năng lực trình độ học vấn cũng như khả năng quản lý xã hội của nho sĩ- vị quan.
Văn chương được đồng nhất với tri thức. Đối tượng được lựa chọn phải là những người đạt tiêu chuẩn đạo đức, học thuộc và hiểu nhiều kinh điển của nho gia. Cho nên nếu nói đến văn chương khoa cử là “thứ văn chương khô khan, dùng nhiều khuôn phép định sẵn về những nội dung kinh điển. Nhưng đó là văn chương chính thống, chính đạo.
Hàng trăm thế hệ những người đi học, đi thi phải coi nó mới là văn chương” [11, tr. Ngay chính vua Minh Mạng cũng nhận thấy những điểm hạn chế của loại văn này, cho rằng “văn chương cử nghiệp chỉ câu nệ sáo cũ hủ lậu mà hãnh diện với nhau, dựng riêng ra một môn, nhân phẩm cao thấp ở đấy, khoa trường lấy đậu hay không là do ở đây, vậy nhân tài ngày càng kém, không lấy gì làm lạ vậy. Nhưng tập tục nhai duyên đã lâu khó mà thay đổi ngay được” [25, tr. Minh Mạng cho rằng vì “tập tục nhai duyên đã lâu khó mà thay đổi được” để giải thích cho việc tiếp tục mạch văn chương khoa cử trong tuyển chọn quan lại là điều đúng nhưng chưa đủ.
Mảng văn chương này có nội dung Nho giáo đậm đặc bởi vì thi là thi nho học, nội dung lấy từ kinh điển Nho giáo. Nói cách khác giáo dục khoa cử chính là hình thức tồn tại, tái sinh của Nho giáo. Trong bối cảnh học tập, thi cử như trên dẫn đến sự thiếu hụt tri thức người học, nhất là trên các phương diện kiến thức khoa học, kỹ thuật, thương mại… Không thể phủ nhận những giá trị của nho học và chế độ khoa cử đào tạo, tuyển chọn cho triều đình nhà Nguyễn những danh nhân, người tài giúp nước, để lại nhiều giá trị văn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mặt khác, lối học văn chương luân lý đạo đức làm gốc không còn phù hợp trước sự thay đổi của lịch sử, nhất là sự phát triển nhanh của cách mạng công nghiệp ở phương tây và ảnh hưởng đến phương đông mạnh mẽ.
Những trí thức nhà Nguyễn vẫn say sưa học hành, thực hành nội dung Nho giáo, say sưa văn chương cử tử, gọt câu đẽo chữ mà không quan tâm đến các vấn đề thực tế khác. Lại thêm tư tưởng thủ cựu bảo trì lâu dài ở quốc gia và xã hội theo khuôn khổ Nho giáo làm cơ sở trật tự xã hội, lấy đạo đức làm gốc, bảo vệ nếp cổ theo văn hóa Trung hoa truyền thống làm mẫu mực là những đặc điểm có thể nhận thấy rõ trong xã hội triều Nguyễn. Bên cạnh đó, các ông vua nhà Nguyễn với tư cách là người đứng đầu triều đình cũng là những nhà nho chính hiệu là người trực tiếp tuyển giảng Nho giáo, tự mình đề ra các đề thi Đình, tạo ra các đề tài cho đình thần ứng đối. Trong bối cảnh đó hàng loạt các bài thơ ngự chế của vua quan ra đời.
Bản thân các vua Nguyễn, các hoàng thân nhà Nguyễn cũng ham thích thơ văn và cũng có tài văn chương. Những tác giả tiêu biểu cho dòng văn học nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu… Xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (yêu chuộng văn thơ) của hoàng phái nhà Nguyễn kéo theo đội ngũ quan lại văn thần đông đảo hưởng ứng tạo nên không khí sáng tác, bình phẩm văn chương sôi nổi. Trong xã hội trọng văn, người làm văn đồng thời là nhà nho trong ngàn năm lịch sử quen nghiên cứu nghiền ngẫm sách vở kinh viện nho giáo, ít chú trọng đến những vấn đề tìm kiếm cái mới cả về nội dung lẫn hình thức. Dù nội dung có chứa những nhận thức hay tình cảm, cảm xúc thì nó vẫn giữ gìn cho có trừng mực đúng chính đạo.
Về nghệ thuật quan tâm sự tìm tòi trong thế gọt giũa tìm câu tìm chữ cho phù hợp, nhắc lại mà không sáng tạo. Không thể phủ nhận hoàn toàn loại văn chương này nhưng giá trị của nó không lớn đối với sự phát triển của nền văn học nói chung.