phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO PHẬT VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 1. Khái lƣợc chung về đạo Phật 1.
Sự ra đời của đạo Phật Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết lý sâu sắc. Với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, đạo Phật ra đời trên cơ sở kinh tế - xã hội Ấn Độ và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Ấn Độ thời kỳ mà nó ra đời. Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN trong bối cảnh Ấn Độ là một nước lớn, đất rộng người đông ở miền Nam châu Á, là nước có lịch sử từ lâu đời, một trong những cái nôi của nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Về điều kiện kinh tế xã hội ở Ấn Độ, do lực lượng sản xuất phát triển khá mạnh dẫn đến sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt.
Đạo Bà la môn sau một thời gian củng cố đã đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị trong xã hội. Xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn đẳng cấp với quyền lợi, địa vị và nghĩa vụ khác nhau: Tầng lớp Bà la môn (Brahmanas), bao gồm tăng lữ, những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp. Sát đế lợi (Ksastryas), gồm vua, quan cai trị thế quyền và tầng lớp võ sĩ. Vệ xá (Vaisyas), gồm dân tự do, làm nông nghiệp, buôn bán và thợ thủ công.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thủ đà la (Soudras), chiếm đa số, là con cháu của những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản xuất – những người nô lệ. Sự phân biệt giữa các đẳng cấp được thể hiện ở nhiều mặt, không những chỉ về quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội, mà cả trong quan hệ giao tiếp, đi lại, ăn mặc, sinh hoạt tôn giáo. Hai đẳng cấp trên trở thành giai cấp bóc lột và thống trị trong xã hội, trong đó nổi bật là những đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp Bà la môn, đẳng cấp được coi là cao quý, trong sạch nhất, sánh vai với thần thánh. Đẳng cấp Thủ đà la ở địa vị tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho các đẳng cấp trên.
Mâu thuẫn giữa các đẳng cấp ở Ấn Độ ngày càng trở nên gay gắt, đã làm xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau. Các trào lưu tư tưởng đó đều gặp nhau ở chỗ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và đạo Bà la môn. Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu tư tưởng đó. Về tiền đề tư tưởng lý luận, Phật giáo bắt nguồn từ những cảm hứng, suy tư, khát vọng của những người Ấn Độ cổ được tập hợp lại trong Vê đa.
Đối với phái chính thống, Vê đa có nghĩa là những tri thức cao cả, thiêng liêng. Trong nghĩa cụ thể, Vê đa là một khối lượng tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng thời gian trên dưới 2000 năm, không đồng nhất về văn phong và nội dung. Các tác phẩm truyền miệng này, gọi theo truyền thống là Mantra, làm thành một bộ phận lớn của Vê đa. Man tra còn lại đến ngày nay dưới dạng bốn tập.
Rigveda là bộ phận cổ nhất thể hiện những nguyện vọng của người dân thường như ước mong có thức ăn, có gia súc, ước vọng mưa xuống, mong an cư, mạnh khỏe, nhiều con cháu… Samaveda là tuyển tập các đoạn hát trong khi tiến hành nghi lễ. Atharvaveda là tuyển tập các bài thần chú ma thuật dùng cho sự khẩn cầu khác nhau. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Yajurveda gồm hai bộ phận: Yajurveda trắng chỉ các bài thần chú và công thức sử dụng; Yajurveda đen thì nêu những ý kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó. Ba bộ phận văn học Vê đa muộn hơn là Bràhamana, Aranyaka và Upanisad.
Tiền đề tư tưởng lý luận của Phật giáo mang đặc trưng của hệ thống lý luận tôn giáo phương Đông. Phật giáo tiếp thu Vê đa, Bà la môn và một số hệ thống khác mang ý nghĩa truyền thống nối tiếp, mọi tư tưởng đều xoay xung quanh việc giải quyết các vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan, trong sự đan xen, vay mượn giữa tôn giáo và triết học, giữa phái này và phái kia. Đặc biệt, Phật giáo đã khai thác triệt để mối quan hệ của Atman và Bràhma (trong Upanisad), cái mà sau này Nêru gọi là trục tung thế giới quan tư tưởng của người Ấn Độ. Sự ra đời của đạo Phật còn gắn liền với vai trò của người sáng lập.
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cô Đàm – Tất Đạt Đa (Gautama Siddhattha), sinh năm 563 TCN, con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sa Kya), trị vì một vương quốc nhỏ là Ca tỳ la vệ (Kapilavaxtu) ở trung lưu sông Hằng, bao gồm một phần phía Nam Neepan và một phần các bang Uttarơ, Prađezơ, Bihe của Ấn Độ ngày nay. Được sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt, hơn nữa lại là người con độc nhất, do đó Thái tử được vua cha và hoàng hậu rất yêu quý. Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã được sống trong môi trường giàu sang nhung lụa và được mọi người tránh cho những nỗi ưu lo phiền não. Tuổi trẻ Tất Đạt Đa không được rời khỏi hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, vui chơi, yến tiệc, học hành, lễ bái tế tự.
Thái tử không hề thấy và cũng không hề biết những gì là đen tối, cực nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình, thậm chí cũng không ngờ rằng trong cuộc đời lại có cảnh đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc bi thương. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 17 tuổi, Người đã được đức Vua cha cho sớm kết duyên cùng công chúa Da Du Đà La, sau đó sinh hạ được người con trai đặt tên là La Hầu La. Kể từ đó, Tất Đạt Đa mới có điều kiện tiếp xúc với xã hội hiện thực. Theo truyền thuyết, lý do dẫn đến bước ngoặt trong tâm hồn trí tuệ đầy nhạy cảm của Tất Đạt Đa là những cảnh tượng gặp bất ngờ tại bốn cửa ra vào hoàng cung.
Tất Đạt Đa tận mặt nhìn thấy một cụ già còm cõi, một người bị bệnh tật giày vò, và sau đó là cảnh của một người chết đau thương. Lần đầu tiên Tất Đạt Đa nhận ra rằng bệnh tật, già yếu và cái chết là những điều bất hạnh, bi kịch cho tất cả mọi người. Cuối cùng Tất Đạt Đa gặp một tu sĩ nghèo với nét mặt dung dị, thanh thản khác thường (một người chối bỏ hưởng thụ xa hoa để đi tìm sự bình yên của tâm hồn trong khổ hạnh), và rồi Người quyết định noi theo vị tu sĩ ấy. Năm 19 tuổi (có sách viết là năm 29 tuổi), nhân lúc vợ con, vua cha ngủ say, Người đã rời bỏ hoàng cung, từ chối giàu sang và quyền lực vào ở ẩn trong núi Tuyết Sơn để tu tập thiền định.
Trong sáu năm trời kiên trì tu khổ hạnh, nhưng Người vẫn chưa đạt chính quả. Qua thực tế tu hành, Tất Đạt Đa hiểu ra rằng từ cuộc sống giàu sang tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều đi chệch khỏi con đường đúng đắn. Cuộc sống thứ nhất là cuộc sống tầm thường vô ích; cuộc sống thứ hai cũng tối tăm, không xứng đáng và vô nghĩa như cuộc sống thứ nhất. Con đường đúng đắn phải là “con đường trung đạo”, con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý, con đường dẫn tới yên tĩnh và sự bừng sáng của tâm hồn trí tuệ.
Sau đó, Tất Đạt Đa từ bỏ tu khổ hạnh đi vào tư duy trí tuệ. Sau 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ Đề (pippala), cuối cùng Người đã giác ngộ được chân lý, thấu hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường giải thoát cho chúng sinh. Từ đó, Người chu du khắp lưu vực sông Hằng truyền bá đạo của mình. Tôn giáo mới gắn liền với tên 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuổi của Người đã hình thành và dần dần lan rộng ra nhiều vùng của Ấn Độ đương thời.
Người đời gọi nó là Phật giáo (giáo lý giác ngộ). Phật thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vườn cây gần thành Câu thi la (Kusinagara). Giáo lý cơ bản của đạo Phật Nội dung giáo lý cơ bản của đạo Phật được tập trung trong kinh sách Phật giáo. Sinh thời đức Phật không viết sách.
Người chỉ giảng dạy và bàn luận với học trò mình bằng lời nói. Sau khi đức Phật nhập Niết bàn, các học trò của Người đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Người, trải qua bốn lần kết tập kinh điển để xây dựng thành một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh. Kinh sách của Phật giáo rất đồ sộ, được chia làm ba bộ phận gọi là Tam tạng (Tripitaka) gồm kinh, luật, luận. Kinh (sutra) gồm năm bộ lớn là những sách ghi lời Phật giảng về giáo lý.
Luật (vinaya) là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép cho việc sinh hoạt, tu học của các đệ tử, nhất là đối với những người xuất gia tu hành. Luận (sástra) là các tác phẩm luận bàn chú giải các vấn đề Phật giáo của các học giả cao tăng về sau. Cũng như các tôn giáo khác, đối tượng phản ánh của Phật giáo là thế giới và con người. Song quan niệm về thế giới và con người của Phật giáo có hệ thống chặt chẽ và mang tính triết học sâu sắc, trên cơ sở tiếp thu nhiều yếu tố của đạo Bà la môn và các trào lưu triết học Ấn Độ cổ đại.
Quan niệm về thế giới, theo Phật giáo các sự vật hiện tượng trong vũ trụ không phải do một đấng siêu nhiên nào tạo tác ra (vô tạo giả), mà nó được tạo nên bởi những yếu tố “pháp” (dharma). 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng im mà luôn luôn chuyển động, biến đổi (vô thường) theo một chu trình thành – trụ - hoại – không (đối với loài vô tình) hay sinh – trụ - dị - diệt (đối với loài hữu tình).