Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CÔNG TỐ VÀ XÉT XỬ THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP 1. Khái niệm hoạt động công tố và xét xử 1. Khái niệm hoạt động công tố * Quyền công tố Trên thế giới, “quyền công tố” đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã hội loài người. Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền.
Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật. Khi mới có Nhà nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có những thay đổi: Lợi ích cá nhân liên quan lợi ích công, tác động qua lại với nhau; chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống của cá nhân. Từ đó, vai trò công tố càng được đề cao trong xã hội.
Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy chưa có khái niệm chính thống về quyền công tố. Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ năm 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện. Tuy nhiên hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất chung. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có quan điểm cho rằng, công tố là “hoạt động tố tụng đối với các vụ mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”.
Theo từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án” 51, tr. Từ điển Luật học lại ghi: Công tố là “quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” 50, tr. Thuật ngữ quyền công tố lần đầu tiên được nghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, 1992 và 2002. Từ điển Luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội” 50, tr.
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh vực cũng như phạm vi chủ thể thực hiện quyền công tố. Nhưng về nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về quyền công tố như sau: - Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân (trước Hiến pháp năm 1992).
Quan điểm này xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền công tố; theo đó, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố. Có nghĩa là ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị, yêu cầu các cơ quan Nhà nước khắc phục, sửa chữa những sai phạm của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì đó cũng là hoạt động thực hành quyền công tố. Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960 cho đến khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành.
Cơ sở lập luận của quan điểm này chủ yếu dựa vào nội dung các điều luật được quy định trong Hiến pháp năm 1980 và 1992; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và 1992. Mặt khác, quan điểm này cũng chịu ảnh hưởng của các nhà tố tụng hình sự Liên Xô trước đây. Khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác, vì đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đồng thời cũng không phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các Luật. - Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố).
Quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự. Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung, cũng như phạm vi của quyền công tố. Về lý luận cũng như thực tế, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát tại Tòa án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát. - Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật.
Quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và của ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế và lao động. Theo quan điểm này thì nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp tư 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp đặc trưng theo luật định mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố là một nội dung của hoạt động chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và các lĩnh vực khác, nhằm bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất. Đây là quan điểm được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc tới trong những văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề tổng kết trước đây của ngành Kiểm sát. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và hành chính.
- Quan điểm thứ tư cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, mọi tội phạm xẩy ra đều xâm phạm đến các lợi ích chung của toàn xã hội, kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự.
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đó là Cơ quan điều tra, Cơ quan Công tố, Cơ quan xét xử và thi hành án. Như 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vậy, Tòa án, Cơ quan Thi hành án cũng là chủ thể thực hiện quyền công tố. Quan điểm này đã xóa nhòa danh giới giữa các chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong tố tụng hình sự. - Quan điểm thứ năm cho rằng quyền công tố bao gồm quyền khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội bị cáo trước Tòa án.
Đại diện cho quan điểm này là các Luật gia theo truyền thống pháp luật của Pháp. Theo họ, quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền). Do vậy, quyền công tố chỉ được thực hiện trong một lĩnh vực duy nhất, đó là lĩnh vực tố tụng hình sự. Chủ thể tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm: Cơ quan điều tra (Điều tra viên) và Cơ quan công tố (Công tố viên).
Riêng quyền truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án và thực hành quyền buộc tội nhân danh Nhà nước tại phiên tòa chỉ thuộc về Cơ quan công tố. Quyền công tố được sử dụng để bảo vệ không chỉ các lợi ích công (lợi ích chung của toàn xã hội), mà cả lợi ích của cá nhân khi bị hành vi phạm tội xâm hại. - Quan điểm thứ sáu cho rằng công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm Luật hành chính, Luật dân sự, Luật kinh doanh thương mại và Luật hình sự; quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó. Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc về Nhà nước; Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, và đồng thời là chủ thể tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật khác nhau.