Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỐNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan kết quả các nghiên cứu trước đây Đầu tiên, một dấu hiệu sụt giảm trong tăng trưởng nền kinh tế sẽ được phản ánh hầu hết vào giá chứng khoán do đó có thể dùng giá chứng khoán làm một chỉ báo quan trọng cho nền kinh tế. Những thay đổi trong sản lượng công nghiệp sẽ thể hiện gián tiếp thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp do đó nếu các chỉ số này cho một cái nhìn lạc quan thì cũng đồng nghĩa thị trường chứng khoán cũng sẽ lạc quan. Bên cạnh đó, một sự thay đổi trong cung tiền sẽ cung cấp thông tin cho nhu cầu về tiền.
Nếu cung tiền tăng có nghĩa là nhu cầu về tiền tệ tăng dẫn đến tín hiệu tăng cho hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế càng cao có nghĩa là dòng tiền càng cao dẫn đến giá chứng khoán cũng tăng, nghĩa là cung tiền tăng sẽ đưa đến sự tăng trưởng và ổn định hơn cho thị trường chứng khoán. Ngoài ra, khi lãi suất thấp nhiều nhà đầu tư trước đây đã mua trái phiếu nhằm tìm kiếm sự an toàn thường có xu hướng bán trái phiếu để tìm kiếm thu nhập cao hơn từ thị trường chứng khoán, ngược lại khi nhà đầu tư cảm nhận được là họ có thể nhận được mức thu nhập cao hơn từ trái phiếu thì dòng tiền sẽ chảy khỏi thị trường chứng khoán. Sự dao động trong lãi suất không phải lúc nào cũng nhận được sự phản ứng trái ngược mà đôi khi nó là một động thái cùng chiều hoặc cũng có thể là không phản ứng gì cả, chỉ khi nào lãi suất phản ánh đúng xu hướng chủ đạo của lạm phát trong nền kinh tế.
Thông thường lãi suất giảm khi lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn và ngược lại. Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào thị trường chứng khoán mang lại nhiều lãi bởi vì trong trường hợp này lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ngoài ra, lãi suất trong nước tăng cũng có tác động thu hút luồng ngoại tệ đổ vào tác động đến tỷ giá và đến lượt mình tỷ giá sẽ tác động đến thị trường chứng khoán. Lạm phát và giá chứng khoán có mối quan hệ nghịch chiều, bởi lẽ xu hướng của lạm phát xác định tính chất tăng trưởng.
Lạm phát cao luôn là dấu hiệu của một nền kinh tế đang tăng trưởng nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững trong khi đó thị trường chứng khoán như một chiếc nhiệt kế đo sức khỏe của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao, đồng tiền mất giá người dân sẽ không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi trong ngân hàng mà chuyển sang nắm giữ các tài sản ít rủi ro hơn như vàng, bất động sản hay ngoại tệ mạnh,…. Khiến một lượng lớn vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm dưới dạng tài sản chết. Thiếu vốn đầu tư, không tích lũy để mở rộng sản xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung sẽ chậm lại.
Lạm phát tăng cao còn ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp dù hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra bình thường, chi cổ tức nhưng tỷ lệ cổ tức khó gọi là hấp dẫn đối với nhà đầu tư khi lạm phát cao. Điều này khiến chứng khoán không còn là kênh đầu tư sinh lợi hấp dẫn. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay thì các rào cản ngày càng được gỡ bỏ nhiều hơn nên tạo nhiều cơ hội cho các tập đoàn, các công ty đa quốc gia. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi hoạt động đều phải chịu ba rủi ro: độ nhạy cảm kinh doanh, nhạy cảm chuyển đổi và nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá.
Điều này đã tạo ra một nhu cầu tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ giá và giá chứng khoán để phòng ngừa rủi ro danh mục. lý thuyết danh mục đầu tư Markovit cho rằng danh mục đầu tư cần phải được xem xét lại khi tỷ giá hối đoái tăng hay giảm. Chẳng hạn một sự giảm giá của VND sẽ dẫn đến việc một danh mục đầu tư của nước ngoài chuyển từ các tài sản nội địa, chẳng hạn chứng khoán sang các tài sản bên ngoài do sự giảm giá đồng tiền đã làm giảm thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nhập của các nhà đầu tư nước ngoài khi những dòng tiền này được chuyển đổi sang đồng tiền chính quốc, sự rút lui của các nhà đầu tư nước ngoài có thể gây ra một sụt giảm trong giá chứng khoán. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư trong nước, sự sụt giảm của VND làm cho giá chứng khoán nước ngoài trở nên đắt hơn, tạo một hiệu ứng thay thế sang các tài sản nội địa, do đó làm tăng giá chứng khoán.
Một số nghiên cứu thực nghiệm ở các nước phát triển Canova và Nicolo (1994) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán và các hoạt động kinh tế thực cho thị trường Mỹ. Bài nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu với các hoạt động kinh tế thực trong tương quan của mô hình tổng thể và mô hình công ty đa quốc gia cũng như trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng sản lượng trong nước và lợi nhuận của các công ty trong nước, quan hệ này càng chặt chẽ hơn khi có sự tham gia của các yếu tố nước ngoài, theo đó mối quan hệ này sẽ tùy thuộc vào cách thức lưu chuyển dòng tiền trong tương lai. Tiếp tục với chủ đề này năm 1997 nhóm tác giả lại cho ra đời một nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán, cấu trúc kỳ hạn của lãi suất, lạm phát và các hoạt động kinh tế thực.
Kết quả bài nghiên cứu lại một lần nữa khẳng định lại tầm quan trong của các hoạt động kinh tế thực có liên quan đến sự biến động trong thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy có sự biến động trong tỷ suất sinh lợi danh nghĩa của chứng khoán có liên quan mật thiết với lạm phát, cấu trúc kỳ hạn của lãi suất của Mỹ. Kết quả cũng hàm ý các nhà điều hành chính sách cần quan tâm đến mối quan hệ này. Du (2002) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi chứng khoán cho thị trường Mỹ.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu nghiên cứu theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 quý trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1999 với các biến lạm phát được tính từ chỉ số giá tiêu dùng (CPI- Consumer Price Index) sau khi điều chỉnh yếu tố mùa vụ, chỉ số chứng khoán được trích xuất từ COMPUSTAT với mô hình VAR được sử dụng. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong cơ chế chính sách tiền tệ và các cú sốc kinh tế thực có liên quan mật thiết với những biến động trong thị trường chứng khoán. Trong đó tác giả lưu ý những thay đổi trong chính sách tiền tệ có liên quan đến lạm phát giải thích tốt cho các biến động trong thị trường chứng khoán Mỹ. Binswanger (2004) thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa những hoạt động kinh tế thực và sự biến động trong thị trường chứng khoán cho thị trường Mỹ, và các nhóm nước khác thuộc G7.
Trong đó tác giả sử dụng mô hình VAR, ECM và hồi quy OLS với các biến được sử dụng là GDP, sản lượng công nghiệp đại diện cho hoạt động kinh tế thực, và chỉ số chứng khoán đại diện ở các thị trường của các nước nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ cùng chiều mạnh mẽ giữa các hoạt động kinh tế thực với sự biến động trong thị trường chứng khoán ở Mỹ và Nhật, Canada tuy nhiên kết quả lại cho thấy có một mối quan hệ yếu giữa hai biến số này ở Pháp, Ý, và Anh. Dopke, Hartmann và Pierdzioch (2006) dự báo sự biến động của thị trường chứng khoán trước các biến động kinh tế vĩ mô, bài nghiên cứu được thực hiện nghiên cứu cho thị trường Đức. Nghiên cứu sử dụng biến VDAX –NEW được thu thập theo tháng được tính toán từ danh mục DAX30 đại diện cho sự biến động của thị trường chứng khoán Đức, sản lượng công nghiệp đại điện cho sự biến động của các hoạt động kinh tế thực, lãi suất trái phiếu kho bạc, biến giả đại diện cho hiệu ứng tháng giêng, dữ liệu được thu thập theo tháng từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 12 năm 2005 với mô hình GARCH (1,1) nhóm tác giả đã cho thấy những biến động trong các hoạt động kinh tế vĩ mô có thể được sử dụng để dự báo các biến động trong thị trường chứng khoán.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Kết quả bài nghiên cứu cũng đưa ra hai hàm ý dựa trên kết quả của mình: Thứ nhất, đối với các nhà đầu tư có thể sử dụng dữ liệu kinh tế vĩ mô để dự báo cho xu hướng biến động trong thị trường chứng khoán. Thứ hai, đối với các nhà nghiên cứu, điều hành chính sách có thể sử dụng các dữ liệu kinh tế vĩ mô để tạo ra các mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa các biến động kinh tế thực và biến động trên thị trường chứng khoán. Một số nghiên cứu thực nghiệm ở các nước đang phát triển và thị trường mới nổi Nếu ở các nước phát triển việc nghiên cứu về chủ đề này đã được nghiên cứu rất nhiều từ thập niên những năm 80 thì chủ đề trong thời gian gần đây mới thật sự được quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các nước đang phát triển, đặc biệt các nước thị trường mới nổi. Trong phần này đề tài sẽ tiến hành hệ thống lại một số nghiên cứu nổi bật trong thời gian gần đây về mối quan hệ giữa biến động trong thị trường chứng khoán với biến động các yếu tố vĩ mô.
Mukhopadhyay và Sarkar (2003) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản trong việc giải thích sự khác biệt về tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Ấn Độ.