Chương 1 MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU TRA VÀ CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm điều tra và công tố trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm hoạt động điều tra Điều tra là hoạt động có mục đích trong việc phát hiện ra sự thật khách quan phục vụ nhu cầu trong đời sống của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động phát hiện tội phạm, người phạm tội.
Hoạt động điều tra được nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào chính sách hình sự, trình độ, cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nước cũng như quan điểm chính trị của quốc gia đó. Quan điểm thứ nhất, cho rằng “hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng có nội dung phát hiện, củng cố, thu giữ các thông tin thực tế nhằm mục đích thu thập chứng cứ” [21]. Quan điểm này chưa thể hiện được của hoạt động nhận thức để làm chuyển hóa thông tin. Đây chỉ là các hoạt động trong việc nhận thức như: hỏi và các phương pháp khác do pháp luật tố tụng hình quy định.
Quan điểm thứ hai, cho rằng “hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nhằm thu thập, củng cố và kiểm tra chứng cứ” [60]. Quan điểm này xác định rõ điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ và theo đó chứng cứ đã tồn tại từ trước, sẵn có trước khi con người thực hiện cuộc điều tra như vậy là bỏ qua quá trình thực hiện của con người, CQĐT chỉ thực hiện việc thu lượm chứng cứ có sẵn. Quan điểm trên chưa đề cập đến chủ thể của hoạt động điều tra và coi chứng cứ là những cái có trước khi thực hiện các hoạt động điều tra, khác với việc thực hiện hoạt động điều tra luôn luôn mang tính sáng tạo, tìm tòi của chủ thể điều tra. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan điểm thứ ba, cho rằng “điều tra là một dạng hoạt động phát hiện, nghiên cứu, củng cố, ghi nhận, thu giữ các chứng cứ của điều tra viên theo quy định của luật” [9].
Quan điểm này không chỉ ra được hoạt động cụ thể nào để có được chứng cứ. Giống như quan điểm thứ hai, đã thừa nhận chứng cứ có trước khi tiến hành các hoạt động điều tra và đã làm mất đi tính tích cực sáng tạo của của hoạt động điều tra mà chỉ là một phương pháp mang tính tìm kiếm đơn lẻ. Hai quan điểm này không phân biệt được sự khác biệt giữa khách thể được phản ánh thông qua các hoạt động điều tra tức là các dấu vết của tội phạm để lại và sản phẩm của hoạt động điều tra là các chứng cứ. Tuy nhiên quan điểm này khác với quan điểm thứ hai là về mặt chủ thể của hoạt động điều tra chỉ là điều tra viên.
Nhìn chung của các quan điểm trên đã nêu được nội dung bản chất của hoạt động điều tra là hoạt động, khám phá, phát hiện, thu thập, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án. Điểm khác nhau giữa các quan điểm trên là đưa ra đối tượng mà hoạt động điều tra hướng tới, thừa nhận điều tra viên là chủ thể của hoạt động điều tra. Tuy nhiên vẫn chưa giải quyết được vấn đề là chứng cứ có sẵn hay không, phạm vi chủ thể của hoạt động điều tra là những ai. Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động điều tra như: Từ điển Luật học thì, "Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ" [8, tr.
Hiện nay quan điểm được sử dụng nhiều ở Việt Nam thì cho rằng điều tra là hoạt động của CQĐT trong điều tra các vụ án hình sự. Điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do một CQĐT thực hiện. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ ràng giữa chức năng của CQĐT với hoạt động điều, đồng nhất giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, coi hoạt động điều tra gồm các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra; nhìn nhận về hoạt động điều tra mang tính cục bộ, phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Trong thực tiễn hoạt động điều tra được tiến hành xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự để xác định sự thật khách quan của vụ án. Cách hiểu như vậy về hoạt động điều tra là chưa toàn diện, đầy đủ thiếu tính bản chất của hoạt động điều tra. Quan điểm này chỉ ghi nhận CQĐT là chủ thể duy nhất có thẩm quyền được thực hiện các hoạt động điều tra. Điều này mâu thuẫn với quy định của BLTTHS về thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra.
BLTTHS 2003 quy định rõ về thẩm quyền thu thập chứng cứ: Để thu thập chứng cứ, CQĐT, VKS và tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án [35, Điều 65, Khoản 1]. Từ đó dẫn đến việc nhìn nhận hoạt động điều tra là chỉ bao gồm một số hành vi về điều tra như "việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện việc bắt, tạm giữ người khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, thực hiện lệnh khám xét. 50-51], chưa phân biệt hoạt động điều tra với các hoạt động tố tụng hình sự khác. Cách hiểu thứ hai cho rằng hoạt động điều tra là hoạt động của CQĐT, VKS và tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.
Điểm khác biệt của quan điểm này so với quan điểm thứ nhất là nhìn nhận việc chủ thể của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động điều tra rộng hơn. Tuy nhiên, cách hiểu này vẫn nhầm lẫn giữa các hoạt động của CQĐT với hoạt động điều tra; giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của CQĐT và VKS. Về mặt quy định của pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý về “hoạt động điều tra” và cũng chưa được giải thích mang tính pháp lý bởi Cơ quan có thẩm quyền trong việc giải thích pháp luật. Các BLTTHS, chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra.
Một số giải thích không chính thức như đã nói trên đây chưa đủ để có một nhận thức đúng về hoạt động điều tra. Mặc dù hoạt động điều tra đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động điều tra được các cơ quan tố tụng hình sự thực hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra. Vì vậy, mà đã đồng nhất hoạt động điều tra với các hoạt động khác của CQĐT, bó hẹp phạm vi chủ thể, phạm vi thời gian của hoạt động điều tra. Tại Việt Nam hoạt động điều tra chưa được các chuyên gia nghiên cứu một cách sâu sắc, nên có nhiều cách hiểu, cũng như nhận thức khác nhau về hoạt động điều tra.
Nhìn từ góc độ lý luận mang tính phản ánh thì hoạt động điều tra được xem là một hoạt động nhận thức. Ngay trong giai đoạn đầu tiên của hoạt động điều tra là thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ đây chính là hoạt động mang tính nhận thức của con người. Hoạt động chứng minh nhằm phản ánh những gì xảy ra trong quá khứ, thì hoạt động thu thập chứng cứ lại phản ánh những khách thể mang tính hiện tại, hiện hữu. Đây là một đặc điểm của việc thu thập chứng cứ, mặt khác nếu chúng ta không dựa vào lý luận nhận thức thì không 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể giải thích được các quy luật hình thành chứng cứ và kết quả của hoạt động điều tra phụ thuộc vào yếu tố nào.
Cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan của vụ án đã xảy ra. Các dấu vết, hình ảnh của tội phạm luôn được phản ánh lại trên các khách thể vật chất. Dấu vết tội phạm là cơ sở thực tiễn khách quan cho hoạt động chứng minh tội phạm, cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu, xem xét, tìm ra quy luật hình thành sự việc phạm tội, để xây dựng kế hoạch chứng minh tội phạm, để đưa ra cách đánh giá những sự việc diễn ra trong quá khứ của liên quan đến sự kiện phạm tội. Dấu vết của tội phạm không được dùng làm chứng cứ nếu nó không được thu thập theo đúng trình tự thủ tục theo quy định của luật tố tụng.
Muốn sử dụng, các dấu vết của tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải thu thập, tiếp nhận và phản ánh nó trong hồ sơ vụ án theo đúng quy định của luật tố tụng, sự phản ánh đó phải đúng sự thật khách quan đã xảy ra trong quá khứ. Đây là quá trình hình thành chứng cứ, một quá trình đòi hỏi mang tính khách quan, tuân thủ các quy luật của hoạt động nhận thức. Trong quá trình đấu tranh tội phạm không bao giờ có sẵn những lời khai, cũng như biên bản hoạt động điều tra. Các vật thể được thực hiện bởi tội phạm phải được Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá để chuyển hóa thành vật chứng theo luật định.
Phân tích các quy định của BLTTHS có thể thấy luật ghi nhận nhiều cách thức, biện pháp điều tra khác nhau như: ghi lời khai, nhận dạng, đo vẽ, so sánh, khám nghiện hiện trường, thực nghiệm điều tra. Việc sử dụng biện pháp điều tra nào là tùy thuộc vào khách thể và mục đích điều tra.