Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm trách nhiệm hình sự.
Qua các tài liệu nghiên cứu khoa học về pháp lý hình sự, nhận thấy xung quanh vấn đề khái niệm "Trách nhiệm hình sự" các nhà hình sự học Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau, như: - GS. Đào Trí Úc có quan điểm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước" [40, tr. Đỗ Ngọc Quang có quan điểm: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [25, tr. Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.
Lê Thị Sơn trong cuốn "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" có quan điểm: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình sự, chịu sự kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [20, tr. Lê Cảm có quan điểm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [6, tr. Qua một số quan điểm nêu trên, chúng ta thấy trách nhiệm hình sự được hiểu theo nghĩa tích cực và tiêu cực. Theo nghĩa tích cực - Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm phải xử sự hợp pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.
Cách hiểu này không truyền thống, ít được các nhà hình sự học thừa nhận và không có tích chất phổ biến. Theo nghĩa tiêu cực - Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một số trình tự (pháp luật tố tụng hình sự) riêng. Ngược lại với cách hiểu "tiêu cực" đây là quan điểm truyền thống, có tích chất phổ biến được thừa nhận rộng rãi trong các nhà hình sự học nói riêng và các nhà luật học nói chung [6, tr. Nhằm đảm bảo sự nhận thức khoa học thống nhất khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và thông qua đó thấy rõ sự khác nhau giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm pháp lý khác của các ngành luật tương ứng phi hình sự.
Chúng ta phải chỉ được các đặc điểm của trách nhiệm hình sự. Qua nghiên cứu các quan điểm nêu trên về khái niệm trách nhiệm hình sự, theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực, đồng thời căn cứ vào các quy phạm phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy. Chúng ta nhận thấy trách nhiệm hình sự có các đặc điểm mà GS.TSKH Lê Cảm đã đưa ra như sau: [6, tr. 610-612] - Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, Một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, khi đó trách nhiệm hình sự sẽ phát sinh đối với họ.
Nói cách khác khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, thì đồng thời trách nhiệm hình sự được đặt ra để giải quyết hậu quả của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, giữa họ với một bên là Nhà nước. Người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng - khi hình phạt được áp dụng đối với họ, có thể họ bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền, tự do, thậm chí có thể bị tước bỏ cả tính mạng. - Trách nhiệm hình sự luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tích chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội. Nhà nước có quyền truy tố, xét xử và buộc người phạm tội phải chịu hình phạt nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm.
Đồng thời Nhà nước cũng có nghĩa vụ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội không bị xâm phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thông qua các cơ quan tố tụng đại diện Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án) để thực hiện trách nhiệm hình sự. - Trách nhiệm hình sự được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi các cơ quan Tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Khi một công dân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chỉ có một số cơ quan được pháp luật quy định rõ ràng với các chức năng và nhiệm vụ của mình mới có quyền tiến hành những thủ tục nhất định để thực hiện trách nhiệm hình sự. Cụ thể các cơ quan này được Bộ luật tố 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tụng quy định rất cụ thể - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Bản thân các cơ quan này cũng không phải là có "siêu quyền", mà phụ thuộc vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hình sự có những quyền tương ứng, bản thân các cơ quan này cũng có sự phụ thuộc, kiểm chế, giám sát nhau. - Trách nhiệm hình sự chỉ được thể hiện trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Đặc điểm này của trách nhiệm hình sự đã được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rất rõ ràng - "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Như trên đã trình bày, khi xác định trách nhiệm hình sự thì có thể bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, song việc khẳng định và thực hiện trách nhiệm hình sự thì chỉ duy nhất Tòa án.
Tòa án thực hiện trách nhiệm hình sự bằng việc tuyên bố người phạm tội phải chịu hình phạt bằng việc tuyên trong bản án đã có hiệu lực pháp luật. - Trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân (thể nhận). Trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ quy định đối với bản thân người phạm tội mà chưa quy định đối với pháp nhân và các tổ chức. Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta với chủ trương hội nhập sâu rộng trong các mối quan hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, vấn đề trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân và tổ chức đang được các nhà luật học quân tâm.
Cơ sở trách nhiệm hình sự và những điều kiện của trách nhiệm hình sự - Cơ sở trách nhiệm hình sự Điều 2 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà làm luật quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự như đã viện dẫn trên, chính là thể hiện các nguyên tắc pháp chế và công bằng trong luật hình sự Việt Nam. Với nguyên tắc pháp chế, - chính là sự thể hiện cơ sở duy nhất, rõ ràng và dứt khoát nội dung ". phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định." của trách nhiệm hình sự, còn với nguyên tắc công bằng, - thể hiện ở chỗ có nghĩa bảo đảm sự bình đẳng ngang nhau trong đánh giá hành vi phạm tội của những người phạm tội, bình đẳng trước pháp luật đối với tất cả mọi người với nội dung "người nào.
Tuy nhiên, như đã đề cập, để công tác đấu tranh, phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, đa dạng hóa hệ thống các hình phạt, tội danh, căn cứ quyết định hình phạt, chế tài. luật hình sự nước ta cũng đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp. Theo đó, phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ: bên cạnh các trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự thì còn có một số trường hợp khi có đầy đủ những điều kiện nhất định, thì một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu mức độ hạn chế hay có thể được (hoặc phải được) miễn trách nhiệm hình sự [42, tr. Cũng chính từ cơ sở pháp lý này cho phép chúng ta hiểu "hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ " là cơ sở của việc xác định trách nhiệm hình sự.
Đây là cơ sở có tính bắt buộc khi xác định trách nhiệm hình sự của một người. Từ nội dung của điều luật đã viện dẫn trên, quy định ".chỉ người nào phạm một tội.