Đặt Vấn Đề Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong các loài cá nuôi quan trọng và có giá trị kinh tế ở một số nước Đông Nam Á như: Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Indonesia. Ở Việt Nam cá tra là đối tượng thủy sản nước ngọt chủ lực được nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long. Đây là loài cá có tính thích nghi rộng, chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Nó có thể nuôi trong môi trường nước chảy (lồng, bè, đăng quang) với mật độ rất cao 100 — 150 con/mỶ nước, đồng thời có thể nuôi trong môi trường nước tĩnh như ao, hầm, mương vườn, ruộng lúa (Theo báo cáo của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Đồng Tháp).
Ở đồng bằng sông Cửu Long cá được nuôi chủ yếu trong ao do năng suất cao (200 — 400 tấn/ha/vu) và chi phí đầu tư thấp hơn so với nuôi bè (Bạch Thị Quỳnh Mai, 2005). Cá tra có phẩm chất thịt thơm ngon nên fillet thịt cá được xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, EU, Nhật. với nhu cầu càng tăng về số lượng cũng như chất lượng. Vì vậy cá tra là một trong các đối tượng quan trọng và có thị trường phát triển rất mạnh mẽ.
Trong những năm qua, nghề nuôi cá tra có những bước thăng trầm, giá cả không ổn định, việc lời lỗ không quyết định ở năng suất mà quyết định do giá cả thị trường. Rồi vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa, các đòi hỏi về kỹ thuật, về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày một khắc khe hơn. Đặt biệt là các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, EU. đòi hỏi rất nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm.
Tình hình nuôi trồng thủy sản trong năm 2005 gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm của cá tra và cá basa. Từ sau thời điểm tháng 4/2005 cho đến nay giá cả trên thị trường luôn biến động theo chiều hướng giảm có lúc dưới mức giá thành (9/2005) chỉ còn 10.000 đ/kg giá loại một. Đến 8/2005 lại xẩy ra sự kiện ba bang của Mỹ cấm nhập khẩu cá tra, basa Việt Nam do bị nhiễm chất Pheoroquinolones càng làm cho người nuôi không còn mạnh dạn đầu tư nuôi cá tra như trước, qui mô nuôi vì thế cũng sụt giảm. Nhưng hiện nay thị trường xuất khẩu cá tra, cá basa đang mở rộng vì dịch cúm gia cầm lan rộng khắp thế giới.
Và giá cá tra, basa xuất khẩu vào thị trường Châu Âu là 3,2USD/kg, là mức cao nhất từ trước đến nay (theo Tiền Phong, 23/3/2006). Do vậy tình hình tiêu thụ cá tra trong những năm qua gặp nhiều trở ngại nhưng tiềm năng về thị trường ở loài cá này vẫn đáng được chú ý. Có khá nhiễu rào can để cá tra có thể xâm nhập vào những thị trường lớn. Bên cạnh rào can về hoá chất, kháng sinh thì người nuôi và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản phải đối mặt với chất lượng thịt cá tra phẩi đạt màu trắng.
Giá cá tra thịt vàng thường thấp hơn cá thịt trắng từ 20 — 25%. Giá cá tra thị trường ngày 27/3/2006 cho biết giá cá tra ao thịt trắng là 12,800 — 13,200đ/kg va cá thịt vàng được 10,300 — 10,800 đ/kg (giá thương lái mua). Qua đó cho thấy cá tra thịt trắng là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế trong việc nuôi cá tra thương phẩm. Do thịt cá tra nuôi ao thường có màu vàng, các nông hộ đã áp dụng biện pháp thay nước thường xuyên để thịt cá nuôi trắng.
Tuy vậy tỉ lệ thịt trắng ở các nông hộ vẫn chưa được ổn định. Đó là những vấn dé khó khăn và trở ngại để cá tra bước vào các thịt trường tiêu thụ lớn mà vẫn giữ được uy tín và chất lượng. Do vậy tìm hiểu những vấn dé về kỹ thuật quan lý ao nuôi thâm canh cá tra và mối liên hệ với hiện tượng vàng cơ thịt trên cá tra thương phẩm là hết sức cần thiết. Do đó được sự phân công của khoa Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, chúng tôi tiến hành dé tài “Mối liên hệ giữa các cấp độ quản lý ao nuôi và tỷ lệ thịt trắng trên cá tra (pangasius hypophthalamus, sauvage 1878) thương phẩm”.1 Mục tiêu chung Khảo sát kỹ thuật quản lý ao nuôi cá tra thâm canh và mối liên hệ với hiện tượng vàng cơ thịt trên cá tra thương phẩm.1 Mục tiêu cụ thé Các mục tiêu cụ thể bao gồm: - Khảo sát kỹ thuật quản lý ao nuôi cá tra thâm canh.
- Khảo sát mối liên hệ giữa tỷ lệ thịt trắng trên cá tra thương phẩm với các cấp độ quan lý ao nuôi thâm canh. - Đánh giá và để xuất các giải pháp nâng cao tỷ lệ thịt trắng trên cá tra thương phẩm. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Đặc Điểm Sinh Học của Cá Tra (Pangasius Hypophthalmus) 2.1 Phân loại Theo Roberts (1991) cá tra có vị trí phân loại như sau: Bộ: Siluriformes Họ: Pangasiidae Giống: Pangasius Loài: Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878) 2.2 Phân bố Theo Rainboth (1997) cá tra được tìm thấy ở những khúc sông rộng của sông MêKông và sông Chao Phraya.
Cá tra có mặt ở cả bốn nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Ở Thái Lan còn gặp chúng ở lưu vực sông MêKông và Chao Phraya. Ở nước ta cá bột và cá giống vớt được chủ yếu trên sông Tiền, cá trưởng thành chi thấy trong các ao nuôi rất ít khi tim thấy trong tự nhiên (Phạm Văn Khánh, 2000). Theo Mai Đình Yên trích bởi Lê Thị Anh và Nguyễn Thụy Khánh Đoan (1997) thì cá tra có hình thái ngoài như sau: thân thon dài, phần sau hơi dẹp bên.
Thân có màu xám hơi xanh, trên lưng nhạt hơn ở hai bên hông, phía đuôi có màu hơi vàng, vi lưng và vi đuôi có màu xám đen. Phần cuối vi đuôi có màu hơi dé bụng màu trắng bạc. Đầu dẹp bằng, không rộng lắm, tỷ lệ giữa chiều dai và chiều rộng so với cá basa thì lớn hơn. Khoảng cách từ vi lưng đến mõm dốc hơn nhiều.
Miệng rộng và có hai đôi râu dài. Cá sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (10 — 14%c) có thể chịu đựng được nước phèn với pH > 4 (pH < 4 cá bỏ ăn, bị sốc), ít chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới 15°C, chịu nóng đến 39°C (Pham Văn Khánh, 2002).3 Đặc điểm dinh dưỡng Dạ dày hình chữ U, ruột ngắn. Miệng cá rộng có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái. Gai trên xương cung mang thưa và ngắn nên không có tác dụng lọc thức ăn như cá ăn sinh vật nổi.
Trong các thuỷ vực tự nhiên tính ăn của cá tra thiên về động vật. Ở các giai đoạn cá bột và cá hương cá tra thích ăn mdi sống nhưng trong quá trình phát triển nó dần dần thích ăn mồi chết và có phổ thức ăn rộng. Trong điều kiện ao nuôi, cá tra có thể thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein thấp do người cung cấp. Theo quan sát thực tế ở những bể ương thì giai đoạn cá bột cá bắt mdi ngẫu nhiên nên có thể ăn lẫn nhau làm tỷ lệ hao hụt lớn.
Nếu thức ăn đây đủ với kích thước phù hợp thì tỉ lệ hao hụt trong ao nuôi mới giảm. Cá lớn có thể ăn thức ăn hoàn toàn có nguồn gốc thực vật (Lê Thị Anh và Nguyễn Thụy Khánh Đoan, 1997 ). Theo Rainboth (1996) thức ăn tự nhiên của cá tra là giáp xác nhỏ và mùn bã hữu cơ. Theo Nguyễn Van Cẩn (1997) cho rằng cá tra sống đáy, bắt môi chủ động và có phổ thức ăn như sau: - Giáp xác: 5,7% - Cá con các loại: 94,3% 2.4 Đặc điểm sinh trưởng Cá trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm.
Trong tự nhiên đã gặp cỡ cá 18 kg hoặc có mẫu cá dài tới 1,8m. Cá nuôi đạt 1 — 1,5 kg/con trong ao năm đầu tiên, nhưng những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt 5 — 6 kg/ năm.5 Đặc điểm sinh san Cá tra đực thành thục ở tuổi thứ hai và cá tra cái ở tuổi thứ ba. Cá tra không cơ quan sinh dục thứ cấp, nên nhìn hình dáng bên ngoài rất khó phân biệt đực hay cái. Mùa vu sinh san của cá trong tự nhiên bắt dau từ tháng 5 — 6 (dương lich), cá dé tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp.
Cá tra không có bãi đẻ ở Việt Nam. Đến mùa sinh sản chúng di cư ngược dòng sông MêKông sang Campuchia để sinh sản. Đến nay bãi đẻ của cá tra chưa được xác định chính xác mặc dù nhiều ngư dân cho là bãi dé ở vùng ngập từ Crachiê trở lên (Cacot,1999 trích bởi Lâm Thị Ngọc Huyền, 2000). Trong sinh san nhân tao ta có thể nuôi thành thục sớm và cho dé sớm hơn trong tự nhiên (tháng ba).
Trong tự nhiên không gặp tình trạng cá tái phát dục. Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá tra có thể tái phát dục 1 - 2 lần trong năm. Buông trứng của cá khi thành thục tương đối lớn. Hệ số thành thục ở cá đạt 20% trong khi đó cá đực chỉ đạt 1 - 3%.
Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra có thể từ 200.000 đến vài triệu trứng. Sức sinh san tương đối của cá tra dao động từ 70. Kích thước trứng của cá tra tương đối nhỏ. Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình Imm.
Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng có thể đạt tới 1,5 — 1,6 mm (Phạm Văn Khánh, 2000). 9/99 Các Mô Hình Nuôi Cá Tra Thâm Canh 2.1 Nuôi cá tra trong bè Sự ghi chép cổ xưa nhất về nghề nuôi cá bè bắt đầu từ Campuchia (Pantalu, 1979; trích bởi Beverridge, 1984). Theo Phạm Văn Khánh, 2003 nuôi cá bè ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có từ những năm 60 của thế kỷ 20, do các kiểu dân Việt Nam hồi hương từ Campuchia về áp dụng tại vùng Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp). Ban đầu ngư dân nuôi trong các lồng bằng tre, đồng thời bè không có mái che nên số lượng rất khiêm tốn và chi để bán làm cá tra phông hoặc cá chợ để ăn.
Dan dần nhờ cải tiến bổ sung kinh nghiệm cũng như kỹ thuật nuôi bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc. ĐBSCL có hơn 50% tỉnh nuôi cá bè nhưng tập trung nhất ở hai tỉnh An giang và Đồng Tháp, với hơn 60% bè nuôi và có năm đã chiếm tới 76% sản lượng nuôi cá bè của toàn vùng. Nguồn giống cá tra và basa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt cá trong tự nhiên.