Đặt vấn đề Hiện nay, cá tra là một loài thủy sản được nuôi khá phổ biến ở nước ta nói chung và ở ĐBSCL nói riêng. Theo tổng cục thủy sản, năm 2020 tổng diện tích thả nuôi cá tra ở ĐBSCL ước dat 5700 ha và tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 1,56 triệu tấn. Năm 2020, sản xuất giống cá tra tại các địa phương vùng ĐBSCL ổn định. Toàn vùng ĐBSCL có khoảng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra, gần 4000 ha cơ sở ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống (bằng 100% so với năm 2019); đã thay thế 60.000 nghìn con cá bố mẹ chọn giống, do đó chất lượng con giống cá tra đã từng bước được cải thiện (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam).
Tiềm năng của nghề nuôi cá tra còn được mở rộng hơn nữa khi được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài như Mỹ Trung Quốc - Hồng Kông, Mỹ, ASEAN, EU, Anh, Mexico, Brazil và Colombia. Tính đến hết tháng 5/2021, tổng giá trị xuất khâu cá tra Việt Nam đạt 637,8 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó riêng tháng 5/2021, giá trị xuất khâu mặt hang này đạt 148,4 triệu USD, tăng 39,3% (www. Tuy nhiên, dé gia tăng lợi nhuận trong việc xuất khẩu thi chúng ta cần tim ra biện pháp giảm chi phí nuôi thấp nhất, đặc biệt là chi phí thức ăn.
Vì trong bối cảnh giá nguyên liệu thức ăn cao, đặc biệt là bột cá (nguồn cung cấp protein giá trị cao) ngày càng trở nên khan hiếm do sản lượng cá tự nhiên ngày cảng suy giảm. Với tiến bộ khoa học trong dinh dưỡng đã cho phép thay thé nguồn protein từ bột cá bằng nguồn protein thực vật sẵn có, rẻ tiền nhưng không làm thay đối sức tăng trưởng của vật nuôi như khô dầu nhân cọ, khô dầu guar. Song, bên cạnh sự phát triển protein thực vật trong thức ăn thủy sản thì vấn đề trở ngại lớn nhất là khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng của động vật thủy sản đối với protein thực vật vì trong các nguyên liệu nay lại giàu B-mannan va một số chất thuộc nhóm NSP như: arabinoxylan, j-glucan, galactan. Dé tăng tỉ lệ tiêu hóa, hấp thu các chất dinh dưỡng trong các loại thức ăn, phải tìm cách loại bỏ những yếu tố kháng dinh dưỡng này.
Giải pháp loại bỏ những yếu tố kháng dinh dưỡng trong nguyên liệu có nguồn sốc từ thực vật là sử dụng enzyme tiêu hóa phun vào thức ăn. 7 Xuất phát từ thực té trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của việc bỗ sung enzyme ngoại sinh j-mannanase vào thức ăn lên tăng trưởng và sức khỏe đường ruột của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage 1878)”. Mục tiêu đề tài = Đánh giá tác dụng của enzyme ngoại sinh B-mannanase lên khả năng tăng trưởng của cá tra. " Đánh giá tác dụng của enzyme ngoại sinh B-mannanase lên sức khỏe đường ruột cua cá tra khi sử dụng thức ăn có nguôn gôc thực vat.
Chương 2: TONG QUAN 2. Đặc điểm sinh học của cá tra 2. Phan loại Theo hệ thống phân loại, cá tra được phân loại như sau: Bộ: Siluriformes Họ: Pangasidae Giống: Pangasianodon Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Tén Tiéng Anh: Tra catfish Tén Viét Nam: ca Tra 2. Đặc điểm hình thái Cá tra là loài cá da trơn có thân dải, đẹp ngang, lưng xám đen, bụng có màu trắng bac, vây lưng cao, vây ngực có nganh, miệng rộng và có hai đôi râu dai.
Kích cỡ cua cá tra tùy thuộc vao từng loài. Loài cá tra nuôi ở Việt Nam có kích thước khi trưởng thành khoảng 4 — 5 kg/con. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có con nặng khoảng 10 — 20kg/con (Nguyễn Thi Hồng, 2014). Đặc điểm phân bố Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam.
Ở Thái Lan, cá tra thường được tìm thấy ở lưu vực sông Mê Kông và Chao Phraya. Ở nước ta, những năm trước đây khi chưa có sinh sản nhân tạo cá tra, cá bột và cá giống được vớt trên sông tiền và sông Hậu. Cá trưởng thanh chi thay trong các ao nuôi, rất ít khi tìm thấy trong tự nhiên do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mê Kông dé sinh sống và sinh sản (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm sinh thái Oxy: Cá tra là loài có cơ quan hô hấp chính là mang và cơ quan hô hấp phụ là bóng khí.
Cả hai cơ quan này đều phát triển rất tốt nên cá có thé lay được oxy từ trong nước và không khí. Trong điều kiện oxy bình thường (20 kPa) thì cá lay oxy chủ yếu từ môi trường nước thông qua mang nhưng khi oxy trong nước thấp (6 kPa) cá phải tăng cường lay oxy từ không khí và giảm việc lay oxy qua mang (Lefevre và cộng sự, 2011). Nhiệt độ: cá tra là loài chịu lạnh tương đối kém, cá có thé sống ở nhiệt độ lên đến 39°C nhưng không thể chịu đựng được ở nhiệt độ dưới 15°C (Nguyễn Thị Hồng, 2014). Theo Trần Thị Thanh Hiền và cộng sự (2009), nhiệt độ nước đưới 15°C cá vẫn sống nhưng cường độ bắt môi sẽ giảm, khi tăng nhiệt độ hơn 39°C cá có hiện tượng mat nhớt và bơi lội không bình thường.
Độ mặn: cá tra là loài sống chủ yếu trong nước ngọt, không sống trong nước mặn nhưng có thể sống ở vùng nước hoi lo có độ mặn từ 10 — 14 °/o0 (Phạm Văn Khánh, 2000). Cá tra có thé chịu đựng được nước phèn pH >4 (pH<4 cá bỏ ăn, bị sốc) và phát triển tốt nhất ở pH từ 6 — 8 (tốt nhất là 6,5 — 7,5). Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra là loài rất háo ăn nên khi ương chúng trong bề phải cho chúng ăn đầy đủ, nếu không chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau, chúng thường ăn nhau ở giai đoạn 1-3 ngày tuổi mặc dù còn noãn hoảng. Trong tự nhiên, cá tra thích ăn các loại mỗi sống cũng như các loại thức ăn có nguồn gốc động vật.
Với cá con sau giai đoạn cá bột, khi túi noãn hoàng đã hết cá rất thích ăn mồi tươi sống va các loài động vật phù du có kích cỡ vừa miệng (Nguyễn Thị Hồng, 2014). Trong điều kiện nuôi nhốt, người ta thường sử dung thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự chế biến. Các nguồn nguyên liệu thường dùng trong chế biến thức ăn cho cá tra là cá tạp tươi, bột lạt, con ruốc, cám gạo, bột bắp, bột đậu nành. Và thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cá phải được cân bằng hợp lí, đặc biệt hàm lượng đạm phải chiếm tối thiểu 30% thì cá mới phát triển tốt được.
Đặc điểm sinh trưởng Cá tra có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Trong tự nhiên cá tra có thé sống trên 20 năm, và người ta cũng đã gặp nhiều con cá tra trong tự nhiên có trọng lượng cỡ 18 — 20kg, dai từ 1,8 — 2m. Khi nuôi trong bè, sau hai tháng cá đạt chiều đài khoảng 10 — 12cm và nặng khoảng 14 — 15g; sau một năm cá đạt khoảng 1 — 1,5kg/con. Và càng về sau cá tăng trọng cảng nhanh hơn, sau khoảng 3 — 4 năm cá đạt khoảng 4 — 5kg/con (Nguyễn Thị Hồng, 2014).
Khi còn nhỏ cá tăng trọng về chiều đài, còn khi cá đạt trọng lượng từ 2,5kg trở di, mức tăng trọng nhanh hơn so với chiều dài cơ thé (Phạm Văn Khánh, 2000). Đặc điểm sinh sản Cá tra khi đã đạt được độ tuổi thành thục (cá đực 2 năm tuổi, cá cái 3 năm tuổi) thì mới có khả năng sinh san, trọng lượng cá thuần thục lần đầu khoảng 2,5 — 3kg (Nguyễn Thị Hồng, 2014). Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh, ở cá cái gọi là buồn trứng. 11 Cá tra không sinh sản ở phần sông của Việt Nam.
Ở Campuchia, bãi đẻ của cá nằm ở khu vực ngã tư giao tiếp hai cong sông Mê Kông và Tonlesap, từ Sombor tỉnh Crachê trở lên. ^ Mùa đẻ trứng của cá tra thường rơi vào tháng 5-7 đương lịch. Khi đến tuổi thành thục cá sẽ đi cư về những khúc sông thuộc địa phận Campuchia và Thai Lan — nơi có điều kiện sinh thái làm bãi đẻ. Tại bãi đẻ, chúng thường tìm những rễ cây sống ven sông để làm giá thé đẻ trứng.
Sau khi đẻ khoảng 24 giờ thì trứng sẽ nở, và cá bột theo dong nước trôi về hạ nguồn (Nguyễn Thị Hồng, 2014). Trong tự nhiên, không gặp tình trạng cá tái phát dục. Chỉ có trong điều kiện nuôi nhân tạo, cá tra có thể tái phát dục 1 — 2 lần trong năm. Sức sinh sản tương đối của cá dao động trong khoảng 70.
Kích thước trứng tương đối nhỏ, trứng sắp đẻ có đường kính trung bình khoảng Imm, sau khi đẻ và hút nước đường kính trứng có thé đạt 1,5 — 1,6mm (Pham Văn Khánh, 2000). Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra ở Việt Nam hiện nay 2. Tình hình nuôi cá tra hiện nay ở nước ta Theo tổng cục thủy sản, năm 2020 tổng diện tích thả nuôi cá tra ở ĐBSCL ước đạt 5700 ha và tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 1,56 triệu tấn. Năm 2020, sản xuất giống cá tra tại các địa phương vùng ĐBSCL 6n định.
Toàn vùng ĐBSCL có khoảng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra, gần 4000 ha cơ sở ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cá tra giống (bằng 100% so với năm 2019); đã thay thé 60.000 nghìn con cá bố mẹ chọn giống, do đó chất lượng con giống cá tra đã từng bước được cải thiện (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam). Diện tích và sản lượng cá tra của ĐBSCL, giai đoạn 2015-2020 Năm Diện tích (ha) Sản lượng (triệu tấn) 2015 5. Tình hình xuất khẩu cá tra hiện nay ở nước ta Các sản phẩm cá tra được sản xuất tuân thủ các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế và an toàn thực phẩm nghiêm ngặt như Global GAP, ASC và BAP. Năm 2020, Việt Nam xuất khâu cá tra sang 138 thị trường.
Top 8 thị trường chính gồm: Trung Quốc = Hồng Kông, My, ASEAN, EU, Anh, Mexico, Brazil và Colombia, chiếm 80,4% tổng giá trị xuất khẩu. Tính đến hết tháng 5/2021, tông gia tri xuất khâu cá tra Việt Nam dat 637,8 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó riêng tháng 5/2021, giá trị xuất khẩu mặt hàng này đạt 148,4 triệu USD, tăng 39,3% (www. Trong các thị trường nhập khâu hàng đầu sản phẩm cá tra của Việt Nam thì Trung Quốc — Hồng Kông van là thị trường hàng đầu với tổng giá trị đạt gần 165,5 triệu USD, tăng 2,1% chiếm gần 26% tổng xuất khẩu cá tra.