CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI LIÊN HÊ GIỮA LÒNG TỰ TRẮC ẨN VÀ MỨC ĐỘ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn trong và ngoài nước 1. Các nghiên cứu về lòng tự trắc ẩn Lòng tự trắc ẩn (self-compassion) đã được Kristin D. Neff định nghĩa và công bố thang đo dựa trên hệ thống nghiên cứu về triết lý Phật giáo trong bài viết khoa học của bà vào n m 2003.
Neff (2003b) cho rằng: Lòng tự trắc ẩn là những thái độ, cảm xúc tích cực về bản thân, bảo vệ chúng ta khỏi hậu quả tiêu cực của sự tự đánh giá, sự cô lập và sự suy ngẫm. Lòng tự trắc ẩn đơn gi n à òng trắc ẩn hướng và nội tb n th n t i n hệ với chính t như à đối tượng củ sự qu n tvà chă sóc khi đối ặt với các tr i nghiệ đ u khổ (Neff, 2003b, tr. Giống như cách chúng ta ch m sóc, đối xử tử tế và thể hiện lòng trắc ẩn với những người xung quanh khi họ đang đau khổ, lòng tự trắc ẩn là áp dụng những điều đó đối với chính mình. Mặc dù mọi người thường coi trọng việc tử tế và trắc ẩn với người khác, nhưng họ thường khắc nghiệt và không quan tâm đến chính bản thân.
Sự tự tập trung cao độ xảy ra khi mọi người đối mặt với những hạn chế của bản thân đôi khi có thể dẫn đến một loại suy nghĩ quá mức và mang theo những cảm giác tiêu cực về bản thân. Cảm giác bị cô lập cũng có thể xảy ra khi mọi người quên mất rằng thất bại và không hoàn hảo là một phần trải nghiệm của tất cả con người, vì vậy mà nó khuếch đại và làm trầm trọng thêm sự đau khổ. Mặt khác, lòng tự trắc ẩn liên quan đến việc đối xử tốt với bản thân khi cá nhân tự xem xét những điểm yếu của mình. Lòng tự trắc ẩn được Neff xác định và đo lường khi gia t ng tính tích cực với xu hướng giảm phản ứng tiêu cực trong thời gian c ng thẳng của cá nhân.
Lòng tự trắc ẩn đòi hỏi cá nhân phải tử tế hơn, h trợ nhiều hơn và ít phán xét gay gắt hơn với bản thân. Nó liên quan đến sự thừa nhận những trải nghiệm của con người, hiểu rằng tất cả con người đều không hoàn hảo và có cuộc sống không toàn v n, nó 6 c khiến cảm giác tự cô lập bởi sự không hoàn hảo của bản thân giảm đi. Nó đòi hỏi cá nhân phải có nhận thức chánh niệm về sự đau khổ và khiến chúng ta suy nghĩ ít hơn về các khía cạnh tiêu cực của bản thân hoặc một trải nghiệm không tốt trong cuộc sống. Ba thành phần cốt lõi của lòng tự trắc ẩn theo mô hình lý thuyết của Dr.Kristin Neff : Nhân ái với bản thân; Tính tương đồng nhân loại; Chánh niệm.
Neff định nghĩa lòng tự trắc ẩn là một trạng thái của tâm trí liên quan đến việc t ng lòng tự trọng và giảm sự tự phán xét, t ng tính nhân v n và giảm sự cô lập, t ng chánh niệm và giảm quy chụp quá mức, và đề xuất rằng các yếu tố này cùng loại ảnh hưởng lẫn nhau. Nh n ái với b n th n có nghĩa là chúng ta xoa dịu và an ủi bản thân khi ở trong đau đớn. Nó cung cấp cho chúng ta sự h trợ và lòng tốt khi chúng đưa ra sự yêu cầu đối với người bạn thân rằng mình đang đau khổ, cần họ giúp đỡ bằng cách đưa ra một cái ôm thay vì một lời chỉ trích. Điều đó cũng giống như chúng ta đang tự ch m sóc bản thân vì lợi ích lâu dài, chúng ta đưa bản thân vào danh sách ưu tiên.
Tính tương đồng nh n ại liên quan đến việc nhận ra rằng đau khổ là một phần của con người. Không ai trong chúng ta là người duy nhất phải chịu sự đau khổ. Làm người là chấp nhận n i đau, thử thách, thất bại và bất hạnh sẽ xảy ra. Chánh niệ cho phép chúng ta ở bên và xác nhận n i đau của mình một cách cởi mở và chấp nhận.
Chúng ta phải chú ý rằng chúng ta đau khổ để làm bất cứ điều gì để hàn gắn và thay đổi n i đau đó. Chúng ta học cách nhìn rõ và chấp nhận rằng chúng ta sẽ thay đổi để có thể phản ứng khôn ngoan hơn trước những thách thức của cuộc sống thay vì phản ứng mà không cần suy nghĩ. Trên cơ sở lý thuyết về khái niệm và các yếu tố cấu thành, trong báo cáo Development and validation of a scale to measure self - compassion, Neff (2003) đã công bố thang đo về Lòng tự trắc ẩn - Self-Compassion Scale (SCS), gồm 26 items đánh giá những suy nghĩ, cảm xúc, và hành vi khác nhau để thấy được những chiều kích khác nhau của lòng tự trắc ẩn; đánh giá sáu yếu tố phản ánh hai mặt tiêu cực và tích cực của ba yếu tố của lòng tự trắc ẩn vừa được nhắc đến phía trên - nhân ái với 7 c bản thân/tự chỉ trích, tính tương đồng nhân loại/tự cô lập, và chánh niệm/đồng nhất quá mức. Trong ấn phẩm gốc (Neff, 2003a), tổng điểm SCS đã chứng minh độ tin cậy cao (Cronbach's α = 0,92), cũng như sáu thành tố của nó (Cronbach's α dao động từ 0,75 đến 0,81).
Độ tin cậy kiểm tra lại trong khoảng thời gian ba tuần cũng tương đồng số điểm tin cậy của độ (Cronbach's α = 0,93) và sáu điểm số dưới mức (với giá trị α của Cronbach từ 0,80 đến 0,88). Hơn nữa, độ tin cậy cao của điểm SCS đã được chứng minh trên nhiều loại khách thể khác nhau (Neff et al. Trong bài viết này, bà cũng đưa ra các lập luận chứng minh tính khoa học của thang đo về độ tin cậy, phân tích các nhân tố. Đồng thời bà cũng chỉ ra mối tương quan giữa thang đo này với các thang đo Lòng tự trọng của Rosenberg (Rosenberg Self- Esteem Scale), thang đo Sự tự chấp nhận của Berger (Berger’s Self-Acceptance Scale), thang đo Sự tự xác định bản thân (Self-Determination Scale) và thang đo các nhu cầu tâm lý cơ bản (Basic Psychological Needs Scale).
Nghiên cứu của Neff và cộng sự (2005) đã chỉ ra mối tương quan thuận giữa lòng tự trắc ẩn và thái độ thích ứng đối với việc học và ứng phó với thất bại, việc duy trì những mục tiêu quyền lực - động lực để học tập và hoàn thiện. Ngược lại, bà cũng chỉ ra mối tương quan nghịch với những mục tiêu thể hiện - động lực để nâng cao hình ảnh bản thân. Những mối liên hệ này đã được tìm hiểu qua trung gian bởi n i sợ thất bại ít hơn và n ng lực nhận thức cao hơn của những sinh viên có lòng tự trắc ẩn. Ngoài ra, khi các cá nhân đối mặt với thất bại hoặc suy nghĩ về điểm yếu của bản thân, lòng tự trắc ẩn có liên quan đến mong muốn cải thiện bản thân nhiều hơn (Zhang & Chen, 2016).
Những sinh viên đại học được gợi mở về lòng trắc ẩn trước một điểm yếu của bản thân có nhiều khả n ng mong muốn cải thiện bản thân và dành nhiều thời gian hơn để học bài kiểm tra sau khi thất bại trước đó (Breines & Chen, 2012) Mặc dù lòng tự trắc ẩn tương tự như lòng tự trọng ở ch nó đòi hỏi phải trải nghiệm cảm xúc tích cực thay vì cảm xúc tiêu cực đối với bản thân, thì hai khái niệm này vẫn có sự khác biệt rõ ràng. Đối với một người, lòng tự trọng dựa trên những đánh giá tích cực về bản thân (line with James’s and Cooley’s definitions). 8 c Tự trắc ẩn, mặt khác, không phải là một loại tự đánh giá hoặc đại diện nhận thức cụ thể của bản thân. Các cá nhân có lòng tự trắc ẩn lại ít có nhu cầu nâng cao hoặc bảo vệ bản ngã của họ hơn những người được thúc đẩy bởi sự duy trì lòng tự trọng, cảm giác không thỏa đáng được đáp ứng bằng sự chấp nhận thay vì đánh giá và phán xét.
Ngoài ra, lòng tự trọng thường được khẳng định dựa trên cảm giác muốn trở nên đặc biệt, nổi bật trong đám đông. Hầu hết mọi người, đặc biệt là trong v n hóa Mỹ, người dân Haiti sẽ cảm thấy rằng việc được gọi là ở mức trung bình là một sự xúc phạm. Ngược lại, lòng tự trắc ẩn được khẳng định dựa trên sự thừa nhận các khía cạnh chia sẻ và phổ quát của kinh nghiệm sống và do đó có xu hướng làm nổi bật những điểm tương đồng hơn là khác biệt với những người khác. Ngoài ra, trong khi lòng tự trọng thường phụ thuộc vào việc đạt được thành công với các mục tiêu, thì lòng tự trắc ẩn lại được cảm nhận chính xác khi cuộc sống không suôn sẻ, cho phép khả n ng phục hồi và ổn định cao hơn.
Trong nghiên cứu Self-compassion and Psychological Resilience Among Ad escents nd Y ung Adu ts”, Neff đã chứng minh rằng không có sự khác biệt đáng kể về mức độ tự trắc ẩn ở thanh thiếu niên và người trưởng thành. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể về giới tính được tìm thấy trong mẫu người trưởng thành trẻ tuổi, với nữ giới báo cáo lòng tự trắc ẩn ít hơn nam giới. Lòng tự trắc ẩn có tương quan thuận đến hạnh phúc và cảm giác kết nối xã hội của thanh thiếu niên cũng như người trưởng thành và tương quan nghịch đáng kể với trầm cảm và lo lắng. Không có sự khác biệt đáng kể trong mức độ của mối tương quan được tìm thấy giữa thanh thiếu niên và người trưởng thành khi so sánh (Neff, 2010).
Tại Việt Nam, lòng tự trắc ẩn đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu với những nghiên cứu khoa học về chủ đề này do Trần Thu Hương và Trần Minh Điệp thuộc khoa Tâm lý học, ĐHQGHN công bố vào n m 2017. Nghiên cứu Đánh giá òng tự trắc ẩn: Một nghi n cứu định ượng ở sinh vi n Việt N đã bước đầu thích ứng thang đo lòng tự trắc ẩn trên khách thể sinh viên Việt Nam và chỉ ra rằng: "Để đạt tới sự tự trắc ẩn, Chánh niệm là thành tố được sinh viên thực hành nhiều nhất và sinh viên ít thực hành Nhân ái với bản thân 9 c trong cuộc sống. Có mối tương quan có ý nghĩa giữa các thành tố của lòng tự trắc ẩn và giữa chúng với lòng tự trắc ẩn nói chung. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các cấu thành trong thang đo SCS-26 giữa các nhóm giới tính, ngành học, vùng miền." (Trần Thu Hương & Trần Minh Điệp, 2017, tr.