MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thanh Hóa là một trong sáu tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ. Với đặc thù về điều kiện tự nhiên giàu tiềm năng phát triển, nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở Thanh Hóa đã được bắt đầu từ những năm 1960 và cho đến nay nghề NTTS đã phát triển khá nhanh, đạt được hiệu quả kinh tế cao, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển và góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, hoạt động NTTS ven biển của tỉnh Thanh Hóa cũng là một trong những lĩnh vực chịu nhiều tác động tiêu cực từ BĐKH.
Các tác động này có thể đe dọa đến mục tiêu phát triển bền vững của nghề NTTS tỉnh Thanh Hóa cũng như ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và thu nhập của người nuôi. Vậy hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ven biển ở tỉnh Thanh Hóa cần phải có những giải pháp như thế nào để vừa thích ứng với các biến đổi của thời tiết, khí hậu, đảm bảo sản xuất ổn định, vừa tăng thu nhập cho người dân, và cũng giảm thiểu biến đổi khí hậu thông qua việc giảm thiểu sử dụng các vật tư đầu vào như con giống, thức ăn, hoá chất, chế phẩm sinh học, thuốc thú y để giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Với 3 trụ cột: thích ứng BĐKH, giảm thiểu BĐKH và đảm bảo tăng trưởng sản xuất, nông nghiệp thông minh với khí hậu (Climate Smart Agriculture – gọi tắt là CSA) là một hướng tiếp cận hiệu quả đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa giảm thiểu, thích ứng và tăng trưởng sản lượng và hiệu quả kinh tế cho sản xuất nông nghiệp nói chung và NTTS ven biển nói riêng trong bối cảnh hiện nay. Từ năm 2014, với sự hỗ trợ của Chương trình BĐKH nông nghiệp và an ninh lương thực (CCAFS) và Trung tâm Nghề cá thế giới (WorldFish), mô hình nuôi kết hợp cá rô phi đơn tính với tôm, cua trong ao, đầm nước lợ ven biển - Mô hình nuôi trồng thủy sản thông minh với biến đổi khí hậu đã được Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (VIFEP ) phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hoá triển khai thử nghiệm tại huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá theo hai giai đoạn 2014- 2015 và 2015 - 2016 với quy mô lần lượt 5 và 25 hộ gia đình.
Trong mô hình này, đối tượng cá rô phi nước lợ 2 đã được thuần hóa để đưa vào nuôi kết hợp với tôm sú truyền thống và cua nước lợ trong các ao, đầm nuôi tôm quảng canh cải tiến vùng cao triều của xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa. Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy: Lồng ghép cá rô phi đơn tính vào ao nuôi tôm nước lợ làm giảm chất thải từ ao nuôi nhờ giảm hệ số thức ăn và môi trường trong sạch hơn; tăng khả năng thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu, đa dạng hóa đối tượng nuôi giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông hộ nhờ tăng năng suất. Mặc dù sản lượng sản xuất của thử nghiệm năm 2016 kém hơn so hơn năm 2015, nhưng thu nhập trung bình của các hộ vẫn cao hơn so với cách sản xuất thông thường (Vifep, 2016). Mô hình đã được cộng đồng và chính quyền địa phương đánh giá cao và mong muốn được tiếp tục nhân rộng ở quy mô lớn hơn.
Tuy nhiên việc nhân rộng mô hình trong giai đoạn hiện nay đang gặp phải một số rào cản như vốn - tín dụng, công nghệ - kỹ thuật, các yếu tố về thể chế, chính sách, vấn đề tiêu thụ, quảng bá các sản phẩm nuôi trồng thân thiện với môi trường của mô hình. Chính vì vậy, cần có một nghiên cứu, đánh giá các kết quả, bài học kinh nghiệm và tiềm năng mở rộng mô hình. Do đó, em đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Mở rộng mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa”. Hi vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn, là cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển NTTS theo mô hình CSA nhằm giảm thiểu rủi ro, tổn thất trước những tác động của biến đổi khí hậu; cải thiện năng suất, hiệu quả NTTS góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực nuôi NTTS ven biển của tỉnhThanh Hóa.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản ven biển là hoạt động sản xuất đặc thù dựa vào tài nguyên thiên nhiên và phụ thuộc lớn vào các yếu tố môi trường và sinh thái. Đây cũng là lĩnh vực sản xuất dễ bị tổn thương và rủi ro nhất trước sự tác động của BĐKH. Để thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ tác động của BĐKH, thời gian qua, một số mô hình thích ứng đã được đề xuất và thử nghiệm trong các nghiên cứu như: nuôi quảng canh cải tiến tôm kết hợp tôm - lúa, tôm - rừng, kết hợp với cua, rong câu, các loại cá 3 nước lợ, nuôi QCCT cá biển, nhuyễn thể nuôi ngao bãi triều hoặc trong ao đầm nước lợ… Các mô hình này nhằm phát huy và tận dụng hiệu quả các tác động có lợi, hạn chế các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu với hoạt động NTTS và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan. Cụ thể: Năm 2008, Bùi Thị Nga và Huỳnh Quốc Tịnh đã nghiên cứu về hệ thống rừng – tôm ở đồng bằng sông Cửu Long.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, đây là một hệ thống phù hợp với vùng ven biển, cải thiện thu nhập cho người dân, ổn định kinh tế, xã hội (tỉ lệ lợi nhuận/vốn là 1,85), giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh và tạo ra sản phẩm tôm có giá trị kinh tế cao (tôm sinh thái). Ưu điểm của mô hình là sử dụng hoàn toàn thức ăn tự nhiên mà không dùng thức ăn công nghiệp vì vậy hạn chế tối đa việc phát thải khí nhà kính trong quá trình nuôi.; Không sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinhcho tôm nuôi giúp bảo vệ và duy trì các nguồn tài nguyên môi trường và hệ sinh thái; làm tăng khả năng thích ứng BĐKH và tạo ra nguồn sinh kế bền vững cho người dân ven biển. Nghiên cứu của các nhóm Thái Ngọc Chiến và cộng sự (2004); Nguyễn Thị Xuân Thu và cộng sự (2003) về nuôi kết hợp cá - rong biển – động vật thân mềm trong cùng một ao nuôi cho thấy: các mô hình nuôi ghép từ 2 đối tượng trở lên trong cùng diện tích ao nuôi mang mang lại nhiều lợi ích như: giảm chi phí sản xuất do tận dụng được diện tích mặt nước và dinh dưỡng trong ao, mặt khác các đối tượng nuôi ghép có tốc độ tăng trưởng tốt hơn do vậy hiệu quả trên một đơn vị diện tích mặt nước tăng lên. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Thu và cộng sự (2003) về nuôi kết hợp tôm với hải sâm cho rằng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường (mật độ vi khuẩn gây bệnh, mật độ nấm) ở ao nuôi kết hợp thấp hơn rõ rệt so với ao đối chứng dựa vào đặc tính sinh học của loài hải sâm là có khả năng ăn lọc.
Nghiên cứu của Trịnh Quang Tú và cộng sự, (2015) về mô hình luân canh tôm – lúa tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cho thấy hệ thống canh tác luân canh tôm- lúa: (1) đảm bảo an ninh lương thực và giảm ô nhiễm môi trường; (2) Tăng khả năng thích ứng và phục hồi so với mô hình chuyên tôm do giảm thiểu chi phí và 4 hạn chế rủi ro dịch bệnh tôm; (3) Giảm phát thải khí nhà kính từ việc giảm sử dụng phân bón và hóa chất trong canh tác lúa, giảm sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi tôm. Đây là là một trong những hệ thống canh tác đặc trưng khu vực ĐBSCL và có tiềm năng ứng phó thông minh trước tác động gia tăng của BĐKH, thích hợp với các vùng ven biển nhiễm mặn theo mùa. Năm 2013, NOMAFIS đã thực hiện đánh giá tổng quan các thực hành nông nghiệp ứng phó thông minh với BĐKH tại các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Điện Biên để đề xuất các giải pháp nhân rộng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: việc ứng dụng các thực hành nông nghiệp ứng phó thông minh với BĐKH trong trồng trọt và chăn nuôi còn rất hạn chế, thường mới ở quy mô nhỏ lẻ, và giới hạn ở những địa bàn của các đề tài, dự án liên quan.
Nghiên cứu cũng chỉ ra những rào cản chính cản trở mở rộng ứng dụng các thực hành nông nghiệp ứng phó thông minh với BĐKH bao gồm: hạn chế về nhân lực và khả năng đầu tư của nông dân, sự phức tạp của các gói kỹ thuật, thiếu các điều kiện về đồng ruộng và cơ sở hạ tầng cần thiết, khó khăn trong tiếp cận thị trường cho một số cây trồng xen hoặc cây trồng mới tại địa phương, thói quen ngại thay đổi của nông, và việc ứng dụng thực hành này thường không mang lại lợi ích kinh tế trước mắt. Nghiên cứu của Vũ Thị Hoài Thu (2015) về phát triển nông nghiệp thông minh với khí hậu ở Việt Nam cũng đưa ra nhận định để thúc đẩy phát triển các thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu, Chính phủ cần tạo lập một môi trường chính sách thuận lợi. Các chính sách phát triển CSA có thể phối hợp/ lồng ghép với các chính sách về BĐKH, chính sách phát triển nông nghiệp, an ninh lương thực, chính sách tài chính đã có. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần phải thiết lập và củng cố thể chế hỗ trợ thực hiện các chính sách đó.
Các thể chế hỗ trợ thực hiện chính sách bao gồm thể chế hỗ trợ tiếp nhận thông tin, hỗ trợ cung cấp đầu vào, hỗ trợ tài chính và phát triển cơ sở hạ tầng ứng phó với BĐKH. Năm 2017, Phạm Ngọc Hoàn, Hồ Hoàng Chinh và Trần Thị LinKa đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia sản xuất lúa giống 5 của nông dân tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.