Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1: Lý luận chung về mở rộng huy động vốn tại NH thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng huy động vốn tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội - Trung tâm kinh doanh. - Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng huy động vốn tại NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội - Trung tâm kinh doanh 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH THƢƠNG MẠI 1.1 Phƣơng thức huy động vốn 1.1 Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi của NHTM * Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho KH tài khoản tiền gửi thanh toán. Số dƣ có trên tài khoản thanh toán của KH có thể hình thành từ hai nguồn: (1) do KH nộp tiền mặt vào.
(2) do KH nhận tiền chuyển khoản từ các đơn vị khác. Số dƣ này nhằm duy trì khâ năng thanh toán và chi trả của KH ở bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên không phải lúc nào KH cũng sử dụng số dƣ này, do vậy số dƣ này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi đƣợc huy động vào thanh toán. Những lúc tạm thời nhàn rỗi này, số dƣ tài khoản thanh toán trở thành nguồn vốn của NHTM.
Do đó NHTM có thể sử dụng cho hoạt động của mình. Mặt khác, tài khoản tiền gửi là loại tài khoản không kỳ hạn, KH có thể rút bất cứ lúc nào mà không cần báo trƣớc cho NHTM nên NHTM rất khó có kế hoạch việc sử dụng nguồn tiền gửi này. Do đó đối với loại tiền gửi này NHTM trả lãi suất rất thấp, thậm chí không trả lãi suất cho KH. Do không đƣợc trả lãi cao, nên KH không duy trì số dƣ tài khoản nhiều, chỉ đủ chi trả cho nhu cầu hàng ngày.
Mặc dù số dƣ không lớn nhƣng với số tài khoản lớn nên tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả các KH trở nên đáng kể. Thông thƣờng ở các nƣớc phát triển không có lãi tiền gửi thanh toán do mục đích chính của việc gửi tiền là dùng để thanh toán chứ không phải dùng 10 để sinh lời. Ở Việt Nam lãi suất của tiền gửi thanh toán vẫn có nhƣng rất thấp, khoảng từ 0. * Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm - Tiết kiệm không kỳ hạn Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không ký hạn đƣợc thiết kế dành cho đối tƣợng KH cá nhân hoặc tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi gửi NH để bảo đảm an toàn và thu một phần lợi nhuận, nhƣng không có kế hoạch dùng vốn đó trong tƣơng lai.
KH lựa chọn hình thức tiền gửi không kỳ hạn do hƣớng tới tính an toàn và tiện lợi thay vì mục tiêu thu lời. Đối với hình thức tiền gửi này, NH luôn phải đảm bảo tồn quỹ tiền mặt để chi trả cho KH tại thời điểm bất kỳ, vì thế NH khó lên kế hoạch sử dụng để cấp tín dụng. Do đó lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thƣờng thấp nhất trong các mức lãi suất huy động. - Việc mở sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn rất đơn giản.
- Khi có sổ tiết kiệm không kỳ hạn, KH có thể gửi tiền và rút tiền tại thời điểm bất kỳ trong giờ giao dịch. - Tuy lãi suất thấp nên số dƣ tiền gửi không kỳ hạn của KH thƣờng không cao, nhƣng nếu thu hút đƣợc nhiều KH, thì trái lại tổng khối lƣợng vốn huy động tiền gửi không kỳ hạn có thể rất lớn. Tiết kiệm có kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho KH cá nhân và tổ chức muốn gửi vốn vì mục tiêu an toàn, thu lời và tạo lập đƣợc kế hoạch sử dụng vốn trong tƣơng lai. Dựa theo phƣơng thức trả lãi, có thể phân loại nhƣ sau: + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ.
+ Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối lỳ. + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi định kỳ 11 Sản phẩm tiền gửi của NH với nhiều kỳ lĩnh lãi khác khau có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu gửi tiền đa dạng của KH. Các loại tiền gửi tiết kiệm khác Ngoài hai loại gửi tiết kiệm chính là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm định kỳ, hầu hết các NHTM đều thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác nhƣ tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thƣởng, tiết kiệm an khang… với nét đặc trƣng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn đƣợc đổi mới theo nhu cầu KH và tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự bắt chƣớc của các đối thủ cạnh tranh. Nghiệp vụ huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá Tại các NHTM, công tác huy động vốn thƣờng do phòng nguồn vốn đảm nhiệm, bao gồm hai bộ phận phân tách theo kỳ hạn huy động: Huy động vốn ngắn hạn, huy động vốn dài hạn.
* Huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá Xác định KH: Khi thực hiện huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá, nhân viên NH thay mặt NH bán giấy tờ có giá cho KH. Xác định KH ―là xác định xem ai có khả năng và nhu cầu mua các loại giấy tờ có giá do NH phát hành. KH tiềm năng trong trƣờng hợp này là các nhà đầu tƣ ngắn hạn, những ngƣời có tiền tệ tạm thời nhàn rỗi cần đầu tƣ sinh lợi, nhƣng phải đảm bảo mục tiêu thanh khoản‖. Các nhà đầu tƣ ngắn hạn: + Nhà đầu tƣ tổ chức gồm doanh nghiệp, công ty bảo hiểm hoặc quỹ và các tổ chức khác.
+ Nhà đầu tƣ cá nhân là các cá nhân nhận đƣợc thu nhập nhƣng chƣa sử dụng đến. 12 Họ tạm thời chƣa sử dụng đến những khoản thu nhập này, do vậy muốn đầu tƣ ngắn hạn. Đây là những KH tiềm năng Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn Để huy động vốn ngắn hạn, các tổ chức tín dụng có thể phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn. Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dƣới 12 tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Muốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, NHTM phải lập hồ sơ đề nghị phát hành. Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, huy động tiền gửi ngắn hạn: Ở Việt Nam từ trƣớc đến nay tất cả các NHTM đều huy động vốn ngắn hạn thông qua hình thức tiền gửi và tiết kiệm, chỉ có vài NH nhƣ Incombank và Vietcombank có huy động vốn ngắn hạn qua phát hành các loại giấy tờ có giá. Điều này là thói quen của cả hai phia, NH và KH, thích hình thức huy động vốn truyền thống hơn là phát triển các hình thức huy động vốn mới. Huy động vốn ngắn hạn bằng kỳ phiếu ―Kỳ phiếu là một loại giấy tờ có giá do NH phát hành để huy động vốn ngắn hạn, trong đó NH sẽ cam kết trả lãi đƣợc hƣởng và vốn gốc cho nhà đầu tƣ khi kỳ phiếu đến hạn‖ Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Chứng chỉ tiền gửi đƣợc NHTM phát hành để huy động vốn kỳ hạn ngắn. Hiện nay, nhiều NHTM khá ƣa chuộng hình thức huy động này. * Huy động vốn trung - dài hạn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá NHTM phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn trung- dài hạn. Trái phiếu do NH phát hành đƣợc coi là trái phiếu công ty.
Trái phiếu NH tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì thế chi phí huy động vốn cao hơn trái phiếu Chính Phủ hoặc trái phiếu kho bạc. 13 Ở Việt Nam thời gian qua, cac NHTM quốc doanh đều có phát hành trái phiếu để huy động vốn dài hạn, trong khi đó các NHTM cổ phần chủ yếu phát hành cổ phiếu để tăng vốn. Tuy nhiên gần đây một số NH đã bắt đầu chuyển sang phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chuyển đổi, đặc biệt là trái phiếu chuyển đổi để huy động vốn dài hạn. Xác định KH Nhà đầu tƣ dài hạn là đối tƣợng KH tiềm năng trong trƣờng hợp này, những ngƣời có vốn nhàn rỗi cần đầu tƣ thu lời trong khoảng thời gian dài.
Với những nhà đầu tƣ này, họ đầu tƣ nhằm đƣợc tiêu dùng cao hơn trong tƣơng lai. Huy động vốn dài hạn bằng phát hành trái phiếu ―Trái phiếu NHTM có thể xem là một loại trái phiếu công ty. Nó là giấy chứng nhận nợ do các NHTM phát hành để huy động vốn dài hạn, theo đó các NH cam kết trả lãi và gốc cho các nhà đầu tƣ mua trái phiếu‖. Thông qua việc bán trái phiếu cho các nhà đầu tƣ, NHTM thu về nguồn vốn dài hạn dƣới dạng vay nợ.
Nhƣ vậy nguồn vốn hoạt động của NHTM tăng lên nhờ vào khối lƣợng trái phiếu bán ra. Tuy nhiên, phát hành trái phiếu làm cho nợ dài hạn của NH tăng lên mà không làm tăng vốn chủ sở hữu của NH. Huy động vốn dài hạn thông qua việc phát hành cổ phiếu NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn giống nhƣ các công ty cổ phần. Huy động vốn trên thị trường Liên NH và từ NHNN Nhìn vào bên nguồn vốn của bảng cân đối tài sản, chúng ta có thể thấy NHTM có một bộ phận vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác và bộ phận vốn vay từ NHNN.
Các tổ chức tín dụng khác trong khi tham gia hệ thống thanh toán có thể mở tài khoản ở NHTM. Qua tài khoản này NHTM có thể huy động vốn giống nhƣ đối với các tổ chức kinh tế bình thƣờng. Ngoài các tổ 14 chức tín dụng, NHNN cũng có thể là nơi cung cấp vốn cho NHTM dƣới hình thức cho vay. MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH THƢƠNG MẠI 1.
Quan niệm về mở rộng huy động vốn tại NH thƣơng mại Mở rộng huy động vốn của NHTM là việc tăng trƣởng huy động vốn về quy mô và thị phần trên cơ sở kiểm soát chi phí, với cơ cấu nguồn vốn hợp lý và đảm bảo chất lƣợng sản phẩm dịch vụ để phục vụ cho chiến lƣợc hoạt động kinh doanh của NHTM theo từng thời kỳ. Đối với hoạt động kinh doanh của NH, lợi nhuận cao luôn đi liền với rủi ro, sự đánh đổi rủi ro và lợi nhuận là bài toán cần giải quyết đối với các nhà quản trị NHTM.