CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về tín dụng bán lẻ Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Creditum có nghĩa là một sự tin tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyển sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến thời hạn của khoảng thời gian trên người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sỏ hữu một giá trị lớn hơn. Phần tăng thêm của giá trị được gọi là phần lời hay phần lợi tức. Đây chính là cái giá mà người sử dụng phải trả cho người sỡ hữu để được quyển sử dụng một lượng tiền tệ hay hiện vật nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau và được phân loại theo nhiều tiêu thức: Căn cứ vào thời hạn tín dụng có ba loại là tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn có hai loại: Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa (cho vay mục đích sản xuất, kinh doanh) và tín dụng tiêu dùng (cho vay mục đích tiêu dùng). Căn cứ vào mức độ đảm bảo phân chia thành tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo. Căn cứ vào đối tượng khách hàng sẽ phân chia thành tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ. 6 Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ.
Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, bán buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các trung gian, đại lý, để bán với khối lượng lớn: ngược lại, bán lẻ là hình thức bán hàng mà người bán trực tiếp bán hàng cho người mua là người sử dụng, tiêu dùng với khối lượng nhỏ, lẻ. Khi áp dụng trong hoạt động tín dụng có hai khái niệm tín dụng bán buôn, tín dụng bán lẻ. Tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản vay thông qua thị trường tài chính( thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối với các trung gian tài chính khác(các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm đại lý ủy thác), và cho vay các công ty và doanh nghiệp lơn khác, không tính đến quy mô giá trị khoản vay. Tín dụng bán lẻ được hiểu là tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng là cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Như vậy có thể hiểu, tín dụng bán lẻ là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ bao gồm là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng khách hàng cụ thể sẽ theo chính sách của từng Ngân hàng. Đặc điểm của tín dụng bán lẻ So với tín dụng doanh nghiệp thì tín dụng bán lẻ có đặc điểm là thị trường rộng lớn và không ngừng tăng trưởng, khách hàng thường quan tâm đến số tiền trả nợ hơn là lãi suất, do đó ngân hàng có thể cho vay với lãi suất cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Giá trị từng món vay thường nhỏ lẻ phân tán.
Do đó dẫn đến tăng chi phí quản lý của ngân hàng cho từng món vay. Kỹ thuật cho vay khá đơn giản, tuy nhiên luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo vì vậy đòi hỏi thẩm định cho vay có kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp. 7 Bên cạnh tín dụng doanh nghiệp, tín dụng bán lẻ sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng. Tốc độ cho vay cá nhân, hộ gia đình tăng nhanh góp phần đẩy nhanh dư nợ, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Thông qua tín dụng bán lẻ, ngân hàng có thể xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ và góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Đối tượng của tín dụng bán lẻ là khách hàng cá nhân, hộ gia đình nên dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện thường xuyên và nhu cầu ngày càng cao. Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các ngân hàng thương mại đã bắt đầu quan tâm đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào khai thác thị trường bán lẻ Tóm lại, một số đặc điểm nổi bật của tín dụng bán lẻ như sau: Thứ nhất là lợi nhuận cao Lãi suất cho vay tín dụng bán lẻ thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM. Mặc dù lãi suất cao một phần là để bù đắp lại chi phí cho vay của ngân hàng như thời gian, nguồn nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản vay này.
Nhưng lãi suất cao cũng đem về cho ngân hàng một khoản lợi nhuận lớn. Thứ hai là rủi ro cao nhưng phân tán được rủi ro Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính, tình trạng sức khỏe, công việc dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ.Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay, nhiều khách hàng đã tìm cách dấu thông tin về tình hình sức khỏe và công việc tương lai của mình nên ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi 8 cho vay, gây tổn thất cho ngân hàng. Cho vay tín dụng bán lẻ được đánh giá là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.Tuy nhiên mỗi giao dịch TDBL thường có giá trị nhỏ nên mức ảnh hưởng của các khoản vay này cũng không lớn đối với hoạt động tổng thể của ngân hàng.
Số lượng khách hàng lớn nên rủi ro khoản mục vay được phân tán cho nhiều người. Thứ ba là có xu hướng phát triển mạnh Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, việc áp dụng lộ trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở rộng chi nhánh và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VNĐ, khả năng mở rộng dịch vụ ngân hàng và sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin. Khách hàng là các doanh nghiệp lớn đã bão hòa.nên các NHTM Việt Nam bắt đầu quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ và đặc biệt là tín dụng bán lẻ. Trong nền kinh tế mở, sự phát triển của xã hội và quy mô dân số ngày càng tăng, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu về dịch vụ TDBL.
Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ TDBL cho một lượng lớn dân cư sẽ trở thành những ông chủ mạnh nhất trong hệ thống ngân hàng. Thứ tư là thị trường tiềm năng Thị trường dịch vụ tín dụng bán lẻ là rất lớn và không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Các ngân hàng có không ít cơ hội để tung ra thị trường những sản phẩm tín dụng bán lẻ của mình.
Việt Nam những năm gần đây đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, môi trường pháp lý dần hoàn thiện, mức thu nhập và trình độ dân trí của dân cư ngày càng tăng. Đó chính là dấu hiệu đáng mừng cho các ngân hàng đang có chiến lược 9 phát triển mạnh các sản phẩm TDBL của mình. Mặc dù hầu hết các NHTM Việt Nam đều đã bắt đầu cung cấp các dịch vụ tín dụng bán lẻ cho khách hàng của mình, nhưng đây là các sản phẩm mới, lại dựa trên nền tảng CNTT hiện đại nên trong quá trình triển khai cũng có một số khó khăn nhất định. Trong khi đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ TDBL của dân cư ngày một tăng nhanh.
Có thể nói thị trường tín dụng bán lẻ Việt Nam hiện có nhiều tiềm năng để khai thác và tất cả các ngân hàng đều có nhiều cơ hội để phát triển trong lĩnh vực này. Vai trò của hoạt động tín dụng bán lẻ 1. Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng bán lẻ có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù như sau: Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn để các cá nhân, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò các thành phần kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP. Góp phần kích cầu tiêu dùng: với các sản phầm cho vay mua nhà ở, ô tô trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình….phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phầm tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, chi vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh tín dụng bán lẻ được khai thông giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hợp lý sẽ hạn chế cho vay nặng lãi ở nhiều nơi. Đối với ngân hàng Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường, phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng.