Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Chuyên đề bao gồm ba chương chính như sau: CHUONG 1: Khái quát về mớ rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. CHƯƠNG 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hai Dương. CHƯƠNG3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam — Chi nhánh Hải Dương. KHÁI QUAT VE MỞ RỘNG HOAT ĐỘNG CHO VAY TIỂU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
TONG QUAN VE CHO VAY TIEU DUNG 1. Khai niém Ngân hang thương mại cung cấp nhiều loại hình sản phẩm cho vay khác nhau dựa theo nhu cầu của khách hàng. Cho vay tiêu dùng (tín dụng tiêu dùng) là loại hình cho vay tương đối phát triển, có thé được coi là phổ biến nhất trong các ngân hàng hiện nay. Hình thức cho vay này xuất hiện trên thế giới từ lâu đời và khá phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây.
Nguồn gốc của cho vay tiêu dùng bắt đầu từ hoạt động thúc đây tiêu thụ hàng hóa của những hãng bán lẻ. Trước đó, các công ty đây mạnh doanh số băng cách đưa ra những chương trình ưu đãi, giảm giá cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, điều này lại làm giảm đáng ké nguồn lợi nhuận của các hãng. Dé vừa tăng lượng tiêu thụ, vừa giữ được mức lợi nhuận tốt nhất, các hãng đã sử dụng phương thức bán trả góp.
Theo đó, khách hàng chưa có đủ tiền vẫn có thé sở hữu được sản phẩm. Giờ đây, các NHTM đã có những bước tiến mạnh mẽ vào thị trường tiềm năng này, kết hợp cho vay trả góp với các công ty bán lẻ, đồng thời triển khai những hoạt động cho vay tiêu dùng riêng lẻ đối với các cá nhân nhăm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Trong cuốn Consumer Credit Fundamentals của Steven Finlay (2005) có ghi chú về tin dụng tiêu dùng “là tin dung được sử dụng bởi các cá nhân cho các mục dich phi thương mại và không được thé chấp bởi bắt động sản hoặc tài sản tài chính cụ thể như cổ phiếu và trái phiếu. Tín dụng tiêu dùng bao gốm các khoản vay tự động, cho vay cải thiện nhà, tín dụng hàng hóa thiết bị và giải trí, cho vay tiền mặt không có bảo đảm, khoản vay mua nhà di động, khoản vay sinh viên và tín dụng tiêu dùng quay vòng”.
Theo Bách khoa toàn thư điện tử Britannica.com: “Cho vay tiêu dùng là các khoản vay ngắn và trung hạn được sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng cá nhân hay tái cấp vốn các khoản nợ phát sinh cho các mục đích đó”. Tại Việt Nam, tuy chưa có văn bản pháp luật cụ thé về cho vay tiêu dùng trong NHTM hay tô chức tín dụng nói chung, tuy nhiên theo Thông tw số 43/2016/TT-NHNN về Cho vay tiêu dùng của Công ty tài chính, do NHNN ban hành ngày 30/12/2016 đã có quy định cụ thé khái niệm về cho vay tiêu dùng: “Hoạt động cho vay của công ty tài chính được xác định là cho vay tiêu dùng khi: (i) Hoạt động cho vay bằng đồng Việt Nam; (ii) Khách hàng vay vốn là cá nhân; (iii) Mục dich vay vốn: nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó, bao gém nhu cầu: Mua phương tiện di lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; Chi phi học tập, chữa bệnh, du lịch, van hoá, thể dục, thể thao; Chỉ phí sửa chữa nhà ở; (iv) Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.000 đồng (một trăm triệu đồng) (trừ trường hop cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật) ”” Tổng kết lại, cho vay tiêu dùng được hiểu là hoạt động tài trợ, cấp vốn của các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng cho mục đích tiêu dùng của cá nhân và gia đình. Hình thức cho vay này cung cấp cho khách hàng nguồn tài chính để phục vụ cho các nhu cầu thiết yêu như y tế, giáo dục, nhà ở, phương tiện đi lại, mua sắm đồ gia dung,. khi họ chưa tích lũy đủ khả năng chi tra.
Đặc điểm về đối tượng khách hàng Như khái niệm đã nêu trên, đối tượng của cho vay tiêu dùng là các cá nhân và hộ gia đình. Trong đời sống hằng ngày, mỗi người cần phải chỉ tiêu rất nhiều cho hoạt động của bản thân và gia đình. Những người có khả năng tài chính dư đả, họ có thé tự đáp ứng nhu cầu của mình. Nhưng lại có rất nhiều cá nhân có nhu cầu ăn ở, đi lại, giải tri.
VƯỢt quá thu nhập, họ cần đến nguồn vốn vay của ngân hàng. Tuy nhiên, đối tượng vay vốn tiêu dùng tại các NHTM không phải là những người nghèo, thu nhập thấp, hoàn toàn không có khả năng chi trả các khoản thiết yếu phục vu đời sống. Mà ngược lại, do quá trình thâm định, xem xét thu nhập va công tác phòng ngừa rủi ro tại các NHTM, đối tượng của cho vay tiêu dùng thường có mức thu nhập khá và ôn định nhưng muốn chỉ tiêu vượt mức. Nói cách khác, các cá nhân vay tiêu dùng đều phải đủ khả năng pháp lý và phù hợp với điều kiện vay vốn tại ngân hàng.
Nhu cầu và quy mô cho vay Nền kinh tế càng phát triển, ngày càng có nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ phục vụ đời sống người tiêu dùng, nhu cầu chỉ tiêu của cá nhân và hộ gia đình lớn hơn. Do đó, số lượng các khoản vay tiêu dùng cũng như dư nợ tăng lên. Tuy nhiên, do đối tượng vay 10 là các chủ thé đơn lẻ hoặc hộ gia đình, nên giá trị của mỗi khoản vay không lớn. Khách hàng vay với mục đích tiêu dùng, chủ yếu là mua sắm, tuy cần vay vốn của ngân hàng, nhưng họ đã có những khoản tích lũy nhất định, và giá trị trung bình các khoản vay đa phần đều không lớn.
Có thé thấy nhu cầu vay nhiều song quy mô mỗi món cho vay lại khá nhỏ. Nhưng xét về tổng thé, số lượng khoản vay cũng như tổng quy mô vay tiêu dùng tại các NHTM hiện nay là rất lớn, và có khả năng tăng thêm do số lượng người tiêu dùng và nhu cầu chi tiêu đa dạng. Trong tương lai, đây là thị trường mục tiêu mà các ngân hàng hướng tới. Rui ro của cho vay tiêu dùng Bắt kỳ khoản vay nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định.
Rủi ro của cho vay tiêu dùng phụ thuộc trực tiếp vào ý chí chủ quan của khách hàng cũng như thực trạng tình hình tài chính của họ. Trên thực tế, cho vay tiêu dùng có rủi ro cao. - Xét về khách quan: Các nguyên nhân của nền kinh tế suy thoái hay phát triển đều ảnh hưởng tới xu hướng tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình. Các rủi ro như khủng hoảng kinh tế, mất mùa, thất nghiệp.
khiến người tiêu dùng mất tin tưởng vào tương lai, tâm lý lo lắng e ngại là lý do làm cho lượng tiêu dùng sụt giảm, nhu cầu vay vốn ít đi. Và ngược lại, khi nên kinh tế đi lên, thu nhập của cải tăng, khách hàng chỉ tiêu nhiều hơn và cho vay tiêu dùng tại các NHTM cũng như TCTD khác được mở rộng. Nếu ngân hàng chỉ tập trung phát triển mảng cho vay tiêu dùng, có thé sẽ phải chịu những rủi ro bất ngờ khi du nợ lúc tăng mạnh, lúc giảm nhiều, dẫn đến lợi nhuận thu được không 6n định, ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển của ngân hàng. - Xét về các rủi ro chủ quan: Các rủi ro chủ quan là những rủi ro đến từ phía khách hàng vay vốn tiêu dùng.
Tình hình trả nợ bị phụ thuộc vào kinh té gia đình, công việc, tình trang sức khỏe người vay vốn. Khách hàng có thé mat khả năng trả nợ, do mục đích vay vốn của họ chủ yếu là tiêu dùng cho cá nhân và gia đình, số tiền vay vốn không được dau tư dé sinh lời giống như vay với mục đích kinh doanh. Nếu các nguồn thu nhập của khách hàng bị sụt giảm, NHTM có thé đối mặt với nguy cơ không thu hồi được nợ bat cứ lúc nao, đặc biệt với cho vay tiêu dùng tín châp, không cân tài sản bảo đảm. 11 Có thé nói, việc quản lý rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM là vô cùng quan trọng và có không ít khó khăn.
Chỉ cần có những sai sót trong quá trình thấm định và giải ngân cũng khiến nguy cơ nợ xấu, nợ quá hạn của ngân hang tăng cao. Lãi suất và lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng Lãi suất của mỗi khoản vay được tính theo công thức: Lãi suất cho vay = Chỉ phí huy động vốn + Biên độ Trong đó: Chi phí huy động vốn được tính bang lãi suất tiền gửi tiết kiệm với kỳ hạn tùy theo quy định của từng ngân hàng, thường là 13 tháng trở lên, do NHNN quy định cắm “Huy động ngắn — cho vay đài”, nghĩa là các NHTM không được dùng nguồn vốn ngăn hạn dé cho vay trung và dài hạn. Biên độ ở đây là phần trăm lãi suất cộng thêm, được tính dựa trên sự tổng hợp các nhân tố như chi phí (thời gian, nhân lực,.) của khoản vay, phan bù rủi ro, phan bù khẩu hao với các khoản cho vay dai hạn, lợi nhuận cận biên cho ngân hàng. Chi phí cho các khoản vay tiêu dùng là khá lớn.
Do mỗi khoản vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ, trừ những khoản vay mua nhà đất. Tại các NHTM, để thực hiện một khoản vay, ngân hàng cần tốn rất nhiều chi phí về truyền thông, bán hàng, thâm định, qua trình thu thập hé sơ, quan lý khoản nợ,. Mà dư nợ cho vay tiêu dùng không nhiều, nguồn lợi nhuận ít hơn trong khi chi phi đắt đỏ, khác với các khoản vay hộ kinh doanh hay doanh nghiệp. Do đó, lãi suất cho vay tiêu dùng cũng sẽ cao hơn so với vay kinh doanh, nhằm bù đắp chi phí.
Hơn nữa, như đã đề cập ở trên, cho vay tiêu dùng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong kinh doanh có một câu nói kinh điển: “Rủi ro càng lớn, thì lợi nhuận kỳ vọng cảng cao”. Theo đó, các NHTM phải tăng lãi suất như một phần bù rủi ro cho những trường hợp nợ xấu có thé xảy ra, nhằm đảm bảo lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng.