phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay bán lẻ tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín - Chi nhánh Hà Đông. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín - Chi nhánh Hà Đông. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO VAY BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm cho vay bán lẻ “ Cho vay của ngân hàng thƣơng mại là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế. Cho vay của ngân hàng thƣơng mại cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mƣợn mà ở đó có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một thời gian nhất định và có sự hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn [10]. ” Xét theo đối tƣợng khách hàng vay vốn, NHTM chia thành hai loại cho vay bán buôn và cho vay bán lẻ.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có khái niệm thống nhất về cho vay bán lẻ. “ Theo ngh a đen trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ bình thƣờng thì bán lẻ là bán trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Nó khác với bán buôn là bán cho ngƣời trung gian, cho ngƣời phân phối hàng hóa đó với khối lƣợng lớn. ” Áp dụng trong hoạt động cho vay của NHTM, cho vay bán lẻ là những khoản cho vay trực tiếp của NHTM đến từng khách hàng cá nhân riêng lẻ, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
“ Nhƣ vậy, theo quan điểm của tác giả: Cho vay bán lẻ của NHTM là hình thức cho vay mà NHTM chuyển cho khách hàng gồm cá nhân, hộ gia đình, DNNVV quyền sử dụng một lƣợng giá trị tiền trong một khoảng thời gian nhất định, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi nhƣ những thỏa thuận mà hai bên đã ký kết về số tiền cấp; thời gian cấp; lãi suất phải trả. Đặc điểm cho vay bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại Một là, quy mô m i khoản vay nhỏ, số lƣợng các khoản vay lớn “ Đối tƣợng đƣợc cung cấp sản phẩm, dịch vụ tín dụng bán lẻ chủ yếu là các 12 cá nhân, hộ gia đình, DNNVV nên số lƣợng rất lớn. Mục đích vay của những đối tƣợng khách hàng này là để bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ hoặc vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm vật dụng gia đình, mua nhà, mua ô tô, sửa chữa nhà, du học. nên giá trị m i khoản vay thƣờng không lớn .” Hai là, cho vay bán lẻ gây tốn kém nhiều chi phí “ Để giải ngân đƣợc một khoản vay dù giá trị lớn hay nhỏ, ngân hàng đều phải thực hiện một quy trình nhất định từ khâu tiếp xúc khách hàng, tìm hiểu, thu thập thông tin, thẩm định hồ sơ, định giá tài sản bảo đảm nếu có, lập đề xuất cho vay… do đó, với các khoản vay giá trị nhỏ của khách hàng bán lẻ thì ngân hàng cũng phải chịu một khoản chi phí nhất định.
Mặt khác, số lƣợng các khoản vay nhiều nhƣng các mục đích không giống nhau cũng gây tốn kém nhiều chi phí. Bên cạnh đó, để phát triển sản phẩm tín dụng bán lẻ, ngân hàng còn tốn kém các chi phí khác nhƣ: chi phí tiếp thị, quảng cáo, tiếp cận đối tƣợng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực, chi phí cho đội ngũ nhân sự cần nhiều hơn so với tín dụng bán buôn, và các chi phí khác liên quan nhƣ: chi phí xăng xe, điện thoại, công tác phí… ” Ba là, cho vay bán lẻ thƣờng có nhiều rủi ro hi thẩm định một khoản vay thì thông tin về nhân thân và nguồn thu nhập dùng để trả nợ của khách hàng là những yếu tố quan trọng để ngân hàng đƣa đến quyết định cho vay đúng đắn. Đối với khách hàng cá nhân, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn thƣờng khó đầy đủ và r ràng vì khách hàng có thể tự tạo ra các thông tin đó mà cán bộ ngân hàng không thể kiểm chứng đƣợc dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng. Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu là từ thu nhập ổn định ở hiện tại, vì vậy nếu ngƣời vay gặp vấn đề về sức khỏe hoặc cố tình lừa gạt ngân hàng thì ngân hàng s gặp rủi ro không đòi đƣợc nợ.
“ Do đặc điểm của cho vay bán lẻ là quy mô m i khoản vay nhỏ những số lƣợng khoản vay lớn, vì vậy để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của cán bộ ngân hàng. Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, các cán bộ có thể chủ quan dẫn đến cho khách hàng vay không đúng mục đích, cho vay vƣợt quá nhu cầu thực tế của khách hàng hoặc do tƣ cách khách hàng không tốt nên không trả đƣợc nợ cho ngân hàng. ” 13 Ngoài rủi ro từ phía khách hàng thì chính các cán bộ ngân hàng cũng phải chịu rủi ro nếu lợi dụng lòng tin của khách hàng và sự sơ hở, lỏng lẻo trong công tác quản lý để chiếm đoạt tài sản của khách hàng hoặc thông đồng với khách hàng gây tổn thất cho ngân hàng. “ Rủi ro còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do Ngân hàng cho vay trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo b ng tài sản.
Trong trƣờng hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng, nhƣng không có ý chí trả nợ trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cƣ trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì s rất khó khăn cho Ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ. ” Bốn là, lợi nhuận từ cho vay bán lẻ lớn “ ãi suất của các khoản cho vay bán lẻ nhất là đối với cho vay KHCN) phần lớn đều cao hơn các khoản cho vay khác của NHTM. Điều này xuất phát từ các khoản cho vay cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên m i khoản cho vay cá nhân cao, số lƣợng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM.
” Năm là, lãi suất cho vay bán lẻ thƣờng đƣợc cố định hoặc thay đổi theo chu kỳ dài hơn so với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh. “ hi đƣa ra mức lãi suất cho vay bán lẻ các NHTM s phải tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào; tính đến phần bù rủi ro và chi phí. Chi phí cho vay bán lẻ lớn, vì vậy lãi suất cho vay bán lẻ thƣờng cao hơn từ 3-5%/năm so với cho vay bán buôn. ” Sáu là, cho vay bán lẻ có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế Cho vay bán lẻ chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế, tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trƣởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao.
Ngƣợc lại, khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, giảm thu nhập thì rất nhiều cá nhân, hộ gia đình, DNNVV s thấy không tin tƣởng vào tƣơng lai, hạn chế chi tiêu, các DNNVV s nhanh chóng thu h p sản xuất. Do đó, việc vay vốn của khách hàng lẻ s hạn chế, làm cho số lƣợng và dƣ nợ các khoản cho vay bán lẻ giảm. Các hình thức cho vay bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại Căn cứ theo thời gian, cho vay bán lẻ gồm: Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng, đƣợc sử “ dụng để bổ sung vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời cho các DNNVV, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của KHCN. Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, đƣợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định, mua sắm phục vụ đời sống, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,.
” Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 60 tháng, thời hạn tối đa có thể lên đến 20 - 30 năm. Một số trƣờng hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm. Đây là hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu dài hạn nhƣ: nhận quyền sử dụng đất, xây dựng, sửa chữa nhà ở, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô, xây dựng các xí nghiệp mới,. Căn cứ theo mục đích vay vốn, cho vay bán lẻ gồm: Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây “ dựng nhà ở, đất đai, bất động sản của các hộ gia đình, các khoản vay này thƣờng đƣợc diễn ra trong thời gian dài, quy mô lớn .” Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng.
phục vụ cho nhu cầu sản xuất sinh hoạt trong một khu vực dân cƣ cũng nhƣ kích thích tiêu dùng của xã hội. Đối tƣợng khách hàng của cho vay tiêu dùng thƣờng là những ngƣời có thu nhập không nhất thiết phải ở mức cao nhƣng phải ổn định, chủ yếu là các công nhân viên chức hƣởng lƣơng và có việc làm ổn định, đây là nhóm đối tƣợng khách hàng có số lƣợng rất đông và nhu cầu vay tiêu dùng lớn. Cho vay sản xuất kinh doanh: Cho vay sản xuất kinh doanh là hình thức cho “ vay nh m bổ sung nguồn vốn lƣu động thiếu hụt tạm thời trong hoạt động kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh của đối tƣợng khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình có hoạt động sản xuất – kinh doanh với quy mô nhỏ. Số lƣợng khách hàng của sản phẩm này có nhu cầu vay thƣờng rất lớn nhƣng doanh số cho vay lại không lớn nên chi phí giao dịch của sản phẩm thƣờng cao.
Mặt khác, do trình độ và thời gian của đối tƣợng khách hàng này thƣờng hạn chế nên 15 nhiều khi khách hàng ngại tiếp xúc với ngân hàng mặc dù có nhu cầu vay vốn [4].