Phần mở đầu 6 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Bắc Hải Dƣơng giai đoạn 2016 -2018 Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần đầu tƣ và phát triển Bắc Hải Dƣơng Phần kết luận 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại 1. K n m, đặ đ m otđn ov t u n ủ ngân hàng t n m * Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ của ngân hàng cho mục đích chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp những người tiêu dùng có thể trang trải nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch… nâng cao mức sống của người tiêu dùng trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để thụ hưởng.
Một số khái niệm có liên quan và có thể gây nhầm lần với “Cho vay tiêu dùng” đó là “T n dụng tiêu dùng” và “Tài chính tiêu dùng”. * “Cho vay tiêu dùng” là khái niệm hẹp nhất, nó chỉ việc các Tổ chức t n dụng và các nhà cung cấp dịch vụ cho các cá nhân/hộ gia đình vay tiền để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ mục đ ch tiêu dùng của các cá nhân/hộ gia đình đó; hiện tại hoạt động của các Công ty tài chính (CTTC) hay ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu là trong lĩnh vực này. * “T n dụng tiêu dùng” có phạm vi hoạt động rộng hơn, vì ngoài cho vay tiêu dùng thì các Tổ chức t n dụng còn có thể cung cấp hoạt động t n dụng tiêu dùng khác nhƣ bảo lãnh tiêu dùng hoặc chiết khấu. * “Tài ch nh tiêu dùng” là thuật ngữ đang đƣợc chúng ta sử dụng rộng rãi để chỉ việc các CTTC cung cấp các dịch vụ cho vay tiêu dùng, tuy nhiên khái niệm này rộng hơn thế rất nhiều.
Tài ch nh tiêu dùng gồm các hoạt động tài ch nh mà cá 8 nhân/hộ gia đình sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu tài ch nh của mình bao gồm 4 mảng chính: Thứ nhất là hoạt động thanh toán. Các cá nhân/hộ gia đình sử dụng các công cụ thanh toán nhƣ tiền mặt, thẻ ngân hàng, công cụ chuyển tiền trực tuyến để chi trả cho các chi tiêu tiêu dùng. Các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán có thể là Ch nh phủ, Ngân hàng, các tổ chức phi ngân hàng, các doanh nghiệp thanh toán trực tuyến… Thứ hai là hoạt động Quản lý rủi ro. Đáp ứng cho cá nhân/hộ gia đình có nhu cầu quản lý rủi ro có thể xảy ra với mình trong cuộc sống thông qua các dịch vụ về bảo hiểm (y tế, đời sống, thƣơng vong, tàn tật và tài sản.), các sản phẩm tài ch nh để bảo vệ khỏi sự sụt giảm danh mục đầu tƣ.
Các tổ chức cung cấp các sản phẩm này bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm xã hội và các kế hoạch cứu trợ thiên tai của ch nh phủ… Thứ ba là hoạt động vay mƣợn. Hoạt động này nhằm phục vụ cho các mục đ ch tiêu dùng nhƣ tài trợ các chi ph sinh hoạt hàng ngày; mua đất, nhà ở, ô tô, đồ dùng sinh hoạt, du học… Việc thực hiện cung cấp t n dụng tiêu dùng có thể thông qua khu vực ch nh thức (Ngân hàng, Công ty tài chính, Quỹ t n dụng…) hoặc thông qua khu vực phi ch nh thức (nhƣ bạn bè và gia đình) và thông qua các tổ chức công nghệ mới nhƣ cho vay cá nhân qua website. Thứ tư là hoạt động Đầu tƣ. Hoạt động tài ch nh này thể hiện qua việc đầu tƣ hoặc tiết kiệm với các công cụ nhƣ tiền gửi ngân hàng, đầu tƣ vào quỹ tƣơng hỗ, các chƣơng trình hƣu tr tại nơi làm việc và các chƣơng trình bảo hiểm xã hội của ch nh phủ… Nhƣ vậy, tài ch nh tiêu dùng là lĩnh vực rộng hơn rất nhiều so với CVTD.
Để phát triển tài ch nh tiêu dùng tại Việt Nam, chúng ta không nên chỉ tập trung duy nhất vào mảng CVTD mà cần quan tâm đồng bộ đến cả bốn mảng kể trên. * Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là một hoạt động đƣợc hình thành do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế. Nó có những đặc điểm riêng khác với t n dụng ngân hàng nói chung. 9 Thứ nhất, số lƣợng các khoản vay lớn trong khi giá trị mỗi khoản vay nhỏ.
Khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh, các khoản CVTD thƣờng có giá trị nhỏ. Khi khách hàng tìm đến ngân hàng để vay tiêu dùng thƣờng có nhu cầu vốn không lớn vì các hàng hoá dịch vụ tiêu dùng thƣờng không quá đắt đỏ nhƣ trƣờng hợp khách hàng vay để mua nhà, sửa chữa nhà, mua ô tô thì quy mô những món vay này cũng không quá lớn đối với ngân hàng do khách hàng thƣờng đã có sự t ch luỹ một phần từ trƣớc. Số lƣợng khoản vay tiêu dùng lớn là do đối tƣợng của CVTD là mọi tầng lớp dân cƣ trong xã hội. Thứ hai, các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao.
Cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao trong danh mục cho vay của ngân hàng. Hoạt động này chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan nhƣ môi trƣờng kinh tế xã hội, môi trƣờng tự nhiên (thiên tai, hạn hán, lũ lụt…) và các yếu tố khác nhƣ: - T nh chu kỳ của hoạt động cho vay tiêu dùng. Nhu cầu vay vốn tỷ lệ thuận với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, hạn hán, bệnh dịch, mất mùa… nhu cầu sẽ giảm đi và nó tăng lên khi nền kinh tế phát triển, vì khi đó ngƣời dân tin tƣởng vào thu nhập của mình trong tƣơng lai và sẵn sàng vay tiền để đƣợc sử dụng trƣớc những hàng hoá phục vụ đời sống.
Ch nh vì vậy khiến ngƣời tiêu dùng chỉ dám yêu cầu mức sống đảm bảo đƣợc những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và từ đó hạn chế việc vay vốn ngân hàng. - Đối tƣợng cho vay tiêu dùng là cá nhân và hộ gia đình. Khả năng trả nợ của khách hàng sẽ thay đổi nhanh chóng khi có sự thay đổi trong điều kiện làm việc hay tình trạng sức khoẻ. Nếu ngƣời vay bị ốm, chết, hoặc bị mất việc thì ngân hàng sẽ khó thu đƣợc nợ.
Các thông tin về khách hàng nhƣ sức khoẻ, công việc có thể có độ ch nh xác không cao do khách hàng cố tình giữ k n hoặc che giấu. Ngoài ra, ngân hàng có thể phải đối mặt với những trƣờng hợp khách hàng cố tình lừa đảo, chây ỳ với hy vọng quỵt nợ, hoặc chiếm dụng vốn kéo dài thời gian sử dụng vốn của ngân hàng. Do vậy, cho dù ngân hàng có nắm giữ tài sản đảm bảo trong các trƣờng hợp này thì cũng khó tránh khỏi tổn thất xảy ra. 10 - Lãi suất CVTD khá cứng nhắc.
Không giống nhƣ các khoản vay kinh doanh hiện nay có lãi suất linh hoạt có thể thay đổi theo điều kiện thị trƣờng, các khoản vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất cố định, đặc biệt các khoản vay tiêu dùng trả góp. Điều này khiến cho Ngân hàng có thể phải chịu tổn thất khi chi ph huy động vốn tăng lên. - Chi phí cho vay tiêu dùng cao. So với các loại hình cho vay khác cho vay tiêu dùng phục vụ các nhu cầu đặc thù của ngƣời dân phân khúc khách hàng có thu nhập thấp và trung bình, quy mô mỗi món vay thƣờng nhỏ, thời gian vay ngắn, độ rủi ro cao, các thông tin về cá nhân thƣờng không đầy đủ và thiếu ch nh xác nên ngân hàng phải mất nhiều chi ph và thời gian trong khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng.
Hơn nữa các khoản CVTD thƣờng có số lƣợng lớn, do đó ngân hàng phải mất thêm chi ph để quản lý các khoản vay, theo dõi và kiểm tra khách hàng thƣờng xuyên… khiến cho việc thực hiện một khoản CVTD của ngân hàng đối với khách hàng thƣờng có chi ph lớn. Cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao. Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục mang lại mức lợi nhuận cao trong danh mục cho vay của ngân hàng. Các khoản CVTD thƣờng đƣợc định giá rất cao vì việc định giá này dựa trên cơ sở chi ph cho vay tiêu dùng lớn và mức độ rủi ro cao.
Khi ngƣời tiêu dùng đến vay tiền của ngân hàng, họ thƣờng quan tâm tới việc có vay đƣợc tiền hay không và có thể chấp nhận mức lãi suất cao để miễn sao vay đƣợc tiền thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Ch nh vì vậy, CVTD đã và đang đem lại mức lợi nhuận cao trong hoạt động ngân hàng. Nguồn trả nợ cho vay tiêu dùng không nhất thiết phải từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó. Nguồn trả nợ cho các khoản vay tiêu dùng đƣợc tr ch từ một phần thu nhập của khách hàng, không nhất thiết phải từ kết quả sử dụng khoản vay.
Do vậy các thông tin tài ch nh nhƣ mức thu nhập và t nh ổn định của các nguồn thu nhập cùng các thông tin phi tài ch nh nhƣ: trình độ học vấn, thời gian làm việc, kinh nghiệm làm việc sẽ là yếu tố cực kỳ quan trọng trong công tác thẩm định các khoản cho vay tiêu dùng. trò o t đ n ov t u n ủ n n n t n m Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ mang lại sinh lợi chủ yếu của NHTM và tổ chức t n dụng nếu xét về thời hạn thì nghiệp vụ cho vay chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Loại cho vay này giúp cho tổ chức t n dụng giữ đƣợc khả năng thanh toán, vì nó th ch ứng với kết cấu bên khoản mục bên tài sản nợ. Tuy nhiên đối với ngân hàng kinh doanh đa năng và Ngân hàng, tổ chức t n dụng lớn khi tỷ trọng các loại tiền gửi dài hạn tăng lên thì cũng mở rộng các khoản t n dụng trung và dài hạn.
Khối lƣợng t n dụng của ngân hàng thƣơng mại và tổ chức t n dụng cho các doanh nghiệp công nghiệp, thƣơng nghiệp để thực hiện các khoản thanh toán và dự trữ hàng hoá.