CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Sông Ba là con sông lớn nhất vùng ven biển miền Trung. Lưu vực sông có dạng chữ L, dài và hẹp với tổng diện tích tự nhiên khoảng 14.132 km2, nằm trên địa phận hành chánh của 15 huyện, thị của 3 tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk và Phú Yên với 1 thành phố và 22 huyện (Hình 1.1): - Tỉnh Gia Lai gồm các huyện: Kbang, thị xã An Khê, Đăk Pơ, Kông Chro, Đăk Đoa, Mang Yang, Chư Sê, Ayun Pa, Ia Pa, Krông Pa; - Tỉnh Đăk Lăk gồm: Ea Hleo, Krông HNăng, Ea Kar, Krông Buk, Ma Đrăk; - Tỉnh Phú Yên gồm: TP Tuy Hòa, Đồng Xuân, Tuy An, Phú Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh, Tây Hòa, Đông Hòa.
Lưu vực ở vào khoảng 12o55’ đến 14o58’ vĩ độ Bắc và 108o00’ đến 109o55’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp với lưu vực sông Sê San và sông Trà Khúc, phía Nam giáp với lưu vực sông Cái (Nha Trang) và sông Srêpôk, phía Tây giáp với lưu vực sông Sê San và sông Srêpôk, phía Đông giáp với lưu vực sông Kône, sông Kỳ Lộ và biển Đông.[2] Phú Yên là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, phía Đông giáp Biển Đông. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.045 km2 giới hạn bởi tọa độ 12039’10” đến 13045’20” độ vĩ Bắc, 108039’45” đến 109029’20” độ kinh Đông. Có đường quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua, có sân bay Đông Tác, cảng biển Vũng Rô. Đắc biệt phía Tây giáp ranh với vùng Tây Nguyên rộng lớn, được nối liền bằng quốc lộ 25, tỉnh lộ 645 và hưởng chung nguồn nước sông Ba.
Phái Đông giáp Biển Đông với nhiều loài hải sản phong phú, trữ lượng lớn, có thể đánh bắt quanh năm. Bờ biển Phú Yên dài 198km chạy từ Cù Mông đến Vũng Rô, một bên là núi một bên là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, vũng, mũi điển hình như đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, Vũng Rô và Vịnh Xuân Đài đều là vị trí thuận lợi để phát triển 4 du lịch và nuôi trồng hải sản [10].2: Bản đồ địa hình lưu vực Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Ba sông Ba 1. Đặc điểm địa hình Đại bộ phận diện tích lưu vực sông Ba nằm ở phía Đông Nam dãy Trường Sơn, nhưng ảnh hưởng của dãy đến khu vực này đã yếu dần và được thay thế bằng phông chung của nền cấu trúc khối tảng cao nguyên. Phần thượng lưu của lưu vực sông, chủ yếu là các nhánh núi bị chia cắt mạnh bởi các sông suối có dòng chảy thường xuyên và tạm thời với hướng địa hình chính kéo dài theo hướng á kinh tuyến.
Phần trung lưu của lưu vực sông rất ngắn, đồi núi trung bình làm cho sông gần như không có phần trung lưu, nước từ thượng lưu đổ thẳng xuống vùng đồng bằng ven biển, được cấu thành bởi những gò đồi sót của các bề mặt địa hình cổ hơn bị bóc mòn, cùng với những bậc thềm, bãi bồi, đụn cát, cồn cát nguồn gốc biển, gió biển, sông-biển và sông. Do các nhánh núi đâm ngang ra biển, đặc biệt là ở phía Tây, Tây Nam lưu vực, nên dòng sông bị đổi hướng khá nhanh từ hướng gần Bắc - Nam sang Tây - Đông, từ Ea Ba đến cửa Đà Rằng. Nhìn chung, do chi phối bởi yếu tố các nhánh núi chạy sát ra biển, cùng với các dòng sông trẻ đang đào sâu lòng thành những hẻm vực, nên mặc dù lưu vực chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình, nhưng tính tương phản của địa hình khá lớn. Đặc điểm đó 5 của địa hình lưu vực được phản ánh thông qua các chỉ số về phân tầng độ cao, độ chia cắt ngang, phân cắt sâu và độ dốc của địa hình.
Tính phân tầng độ cao của địa hình Trong phạm vi lưu vực sông Ba tồn tại các bậc địa hình sau: - Bậc I (có độ cao 1500 ÷ 1700 m): Mực địa hình này phát triển rất hạn chế, chỉ quan sát thấy ở khu vực Tây Bắc thượng nguồn lưu vực, trong phạm vi khối núi Kon Ka Kinh (1748 m) kéo dài xuống phía Nam tới khối núi Kon Boria (1502 m). - Bậc II (có độ cao dao động từ 800 ÷ 1200 m): Đây là bậc địa hình khá phổ biến ở thượng nguồn và phần đỉnh của một số nhánh núi phân thủy đâm ngang ra biển. Chúng tạo nên một mực địa hình rộng với độ cao 800 ÷ 900 m ở phần cuối của thượng lưu lưu vực và cao dần lên thành bậc chuyển tiếp với bậc I kể trên. - Bậc III (có độ cao dao động từ 400 ÷ 700 m): Phân bố rộng rãi nhất dưới dạng bề mặt trũng trước núi bằng thoải ở khu vực chi lưu Ea Krông Hnăng, còn ở Ya Hleo, Ayun Pa chúng thể hiện dưới dạng bề mặt bazan bằng rộng.
Ngoài ra mực địa hình này còn qua sát thấy ở dạng các bề mặt đỉnh không liên tục thành vành đai kéo dài dọc thung lũng sông Ba và sông Ia Yun. - Bậc IV (có độ cao phổ biến từ 200 ÷ 250 m): Phân bố ở phần trung lưu của lưu vực. Trong địa hình hiện tại chúng là những bề mặt san bằng của địa hình đồi cao, hoặc bề mặt chia nước của các lưu vực cấp II, cấp III; liên hệ với nhau bằng chuỗi các chỏm đồi hoặc dãy đồi ngăn cách nhau bởi các yên ngựa uốn lượn mềm mại. - Bậc V (có độ cao trung bình từ 100 ÷ 150 m): Là bề mặt của các đồi và dãy đồi.
- Bậc VI (có độ cao từ 10 ÷ 30 m): Đóng vai trò chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng lên vùng đồi núi, là các bề mặt thềm sông, thềm biển. - Bậc VII (có độ cao < 10 m): Bao gồm toàn bộ địa hình đồng bằng. Trong thực tế mực này có thể chia ra thành 2 phụ bậc: + Phụ bậc VIIa (5 ÷ 10 m): Mang tính chất của đồng bằng cao, ít chịu tác động của biển và lũ lụt. + Phụ bậc VIIb (< 5 m): Mang tính chất của đồng bằng thấp, chịu nhiều ảnh hưởng từ hoạt động của sông, biển và nhất là lũ lụt.
Như vậy địa hình lưu vực có sự phân bậc khá rõ. Tính phân bậc của địa hình phù 6 hợp với tính phân bậc chung của địa hình địa khối Kon Tum và Trường Sơn Nam. Đặc điểm chia cắt ngang của địa hình Thuộc tính chia cắt ngang của địa hình thể hiện giá trị độ dài của dòng chảy thường xuyên và tạm thời trên một đơn vị diện tích, những khu vực có các cấp độ chia cắt ngang sau (mức độ chia cắt ngang tính theo đơn vị km/km2): - Hầu như không bị chia cắt (< 0,5) - Chia cắt ngang yếu (0,5 1,5) - Chia cắt ngang trung bình (1,5 3,0) - Chia cắt ngang mạnh (> 3,0) Có thể thấy rằng những vùng được phân chia này mang tính quy luật chung và bao gồm những đặc điểm sau: + Địa hình hầu như không bị chia cắt chỉ phân bố ở vùng cát ven biển. + Địa hình bị chia cắt yếu ở vùng núi.
+ Địa hình bị chia cắt ngang trung bình tập trung ở vùng đồi, đồng bằng và bề mặt trũng trước núi ở phía Tây Nam lưu vực. + Địa hình bị chia cắt ngang mạnh tập trung thành cụm, điểm trên đồng bằng thấp. Đặc điểm phân cắt sâu của địa hình Đây là thuộc tính thể hiện giá trị về độ chênh cao của địa hình trên một đơn vị diện tích và nó cũng như độ dốc được gián tiếp thể hiện qua thuộc tính năng lượng của địa hình. Việc thành lập bản đồ phân cắt sâu địa hình đã phân chia vùng nghiên cứu thành những khu vực với các cấp độ phân cắt sâu khác nhau như sau (mức độ chia cắt ngang tính theo đơn vị m/km2): - Hầu như không bị chia cắt (< 10).
- Chia cắt sâu yếu (10 20). - Chia cắt sâu trung bình (20 100). - Chia cắt sâu mạnh (100 300). - Chia cắt sâu rất mạnh (> 300).
7 Nhìn chung độ chia cắt sâu địa hình lưu vực có những đặc điểm sau: + Mức độ chia cắt sâu mạnh và rất mạnh chiếm diện tích lớn và thuộc về miền núi của lưu vực. + Mức độ chia cắt sâu trung bình chiếm tỉ lệ diện tích hạn chế dưới dạng vùng đồi chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng. + Mức độ chia cắt sâu yếu và hầu như không bị chia cắt chiếm tỉ lệ diện tích không lớn. Tuy vậy, ở khu vực miền núi nơi mà những dòng sông suối cắt xẻ vào bề mặt cao nguyên bazan thì tại đó có sự biến động mạnh về độ chia cắt sâu, từ những giá trị rất lớn ở phần sườn dốc xuống đáy thung lũng, máng trũng với hình thái dạng hẻm vực tới giá trị khá nhỏ trên bề mặt cao nguyên.
Đặc điểm độ dốc địa hình Vùng nghiên cứu có thể được phân chia thành các khu vực với các cấp độ dốc sau (đơn vị độ góc): - Hầu như nằm ngang (<3). Độ dốc lưu vực có sự biến đổi đột ngột rõ rệt, từ rất thoải ở vùng đồng bằng ven biển, các bậc thềm sông biển đến rất dốc tại các hẻm vực, sườn dốc ở vùng núi. Thậm chí có rất nhiều nơi ở miền núi Tây Bắc lưu vực có độ dốc lên đến trên 40o. Ngoài những đặc điểm độ dốc trên vừa nêu, thì cũng phải đề cập đến vai trò độ dốc nghiêng thoải tại các bề mặt phủ bazan cao nguyên và trũng bằng thoải trước núi trong vùng nghiên cứu.
[10] Địa tầng: tham gia vào cấu trúc lãnh thổ tỉnh Phú Yên có mặt khá đa dạng các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất và phun trào có tuổi từ Proterozoi đến Kanozoi, theo thứ tự từ già đến trẻ gồm các phân vị địa tầng sau: Giới Proterozoi, Paleozoi, Merozoi, Kainozoi. 8 Mác ma xâm nhập: trong phạm vi tỉnh Phú Yên phát triển khá phong phú và đa dạng cả về không gian lẫn thời gian, chiếm trên 50% diện tích tự nhiên và có các phức hệ Bến Giằng- Quế Sơn, Vân Canh, Tây Ninh, Định Quán, Đèo Cả, Cà Ná - Pha 1, Phan Rang, Cù Mông. Đặc điểm cấu trúc kiến tạo: hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc - Tây Nam, điển hình là đứt gãy Vĩnh Long - Trung Hòa. Hệ thống đứt gãy theo phương Tây Bắc - Đông Nam gồm nhiều đứt gãy quy mô nhỏ - vừa, điển hình là đứt gãy sông Ba, sông Kỳ Lộ.