Phần Mở đầu * Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. * Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TNGTĐB và xác định thiệt hại do TNGTĐB gây ra. * Chƣơng 3: Phân tích đánh giá tình hình TNGTĐB và thiệt hại do TNGTĐB gây ra hiện nay. * Chƣơng 4: Xây dựng mô hình xác định thiệt hại do TNGTĐB gây ra ở Việt Nam.
* Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giao thông vận tải, an toàn giao thông và tai nạn giao thông trong phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Hiện nay để lƣợng hóa các tiêu chí phát triển chung của ngành giao thông vận tải tác động đến nền kinh tế xã hội của đất nƣớc vẫn còn đang là vấn đề khó đánh giá chính xác. Hàng năm trong báo cáo tổng kết thƣờng niên của Bộ GTVT cũng chỉ nêu đƣợc các số liệu và chỉ tiêu cơ bản đó là : - Tổng số tấn và tấn.km, tổng số hành khách và hành khách.km đã đƣợc thực hiện cùng với sự phân bổ của các con số đó cho các lĩnh vực vận tải đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng thủy, đƣờng hàng không. - Khối lƣợng công trình hạ tầng giao thông đƣợc hoàn thành và tỷ lệ nguồn vốn đầu tƣ đƣợc giải ngân so với tổng mức kế hoạch đã đƣợc phân bổ - Số lƣợng và tổng giá trị của các sản phẩm công nghiệp của riêng các doanh nghiệp của ngành GTVT đã làm và sản xuất ra trong năm - Số vụ tai nạn giao thông và những con số mang tính phân tích nhƣ số tai nạn trên 10000 đầu phƣơng tiện, số ngƣời tử vong và thƣơng vong trong năm hay là số vụ tai nạn phân biệt cho từng chuyên ngành vận tải.
Nhƣ vậy từ báo cáo này, có thể thấy rằng vấn đề ATGT và TNGT là một trong những chỉ số, tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tăng trƣởng và phát triển có bền vững hay không của GTVT quốc gia. Trong những năm vừa qua, ngành GTVT đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nƣớc, đi kèm với nó vấn đề trật tự ATGT cũng đã từng bƣớc đƣợc cải thiện, tuy nhiên TNGT vẫn luôn là vấn đề đang đƣợc tập trung giải quyết cả trƣớc mắt và lâu dài vì sự phát triển bền vững của đất nƣớc và sự an toàn của ngƣời dân khi tham gia giao thông. Theo số liệu thống kê tại Việt Nam, TNGTĐB chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm tới gần 99% số vụ TNGT, xấp xỉ 98% số ngƣời thiệt mạng và 99% số ngƣời bị thƣơng. Thiệt hại do TNGT gây ra hàng năm ở nƣớc ta, theo ƣớc tính của một số tổ chức quốc tế có uy tín nhƣ WHO, ADB, JICA.
có thể chiếm đến 6 2,5 ÷ 2,9% GDP của cả nƣớc. Nếu tính riêng trong năm 2019, GDP của cả nƣớc là 263 tỷ USD, thì thiệt hại do TNGT gây ra chỉ riêng năm 2019 đã là gần 6,5 tỷ USD, tƣơng đƣơng với 150. Đây là con số rất lớn đối với một quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam. Từ con số này cho thấy việc nghiên cứu giải quyết vấn đề ATGT, TNGT nói chung và TNGTĐB nói riêng, trong đó có việc đánh giá thiệt hại do TNGT gây ra là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp phát triển ngành GTVT và phát triển đất nƣớc lâu dài bền vững.
Đánh giá thiệt hại do TNGT gây ra một cách khoa học, có định lƣợng đầy đủ, phản ánh đúng thực tiễn thực trạng về TNGT đã và đang xảy ra ở Việt Nam là công việc rất lớn và phức tạp, chƣa có nhiều công trình nghiên cứu đầy đủ nhất là trong các điều kiện giao thông, đặc biệt là giao thông đƣờng bộ với nhiều đặc điểm riêng của Việt Nam chúng ta. Các nghiên cứu về tai nạn giao thông và thiệt hại do tai nạn giao thông đƣờng bộ gây ra 1. Các nghiên cứu quốc tế Nhiều tổ chức quốc tế và cá nhân đã có nhƣng nghiên cứu về ATGT, TNGT và thiệt hại do TNGTĐB gây ra. Một số nghiên cứu về ATGT và TNGT của các tổ chức quốc tế về mối quan hệ giữa TNGT và các yếu tố nhƣ tốc độ phƣơng tiện, chất lƣợng đƣờng xá, nồng độ cồn trong máu của ngƣời điều khiển phƣơng tiện, vai trò và chất lƣợng của mũ bảo hiểm cho ngƣời trên xe cơ giới tham gia giao thông, vai trò của dây an toàn.
Một số tác giả nƣớc ngoài cũng đã có những nghiên cứu về thiệt hại do TNGTĐB gây ra và ảnh hƣởng của nó tới phát triển kinh tế xã hội. Quan hệ giữa tốc độ và xác xuất xảy ra tai nạn, tổ chức y tế thế giới WHO của liên hợp quốc đã có nhiều nghiên cứu chỉ rõ: An toàn giao thông có quan hệ mật thiết với tốc độ, trong đó tốc độ càng cao, xác suất xảy ra va chạm càng lớn và thiệt hại cũng càng lớn. Tổ chức y tế thế giới (WHO) Liên hợp quốc, đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực ATGT. Một nghiên cứu gần đây của WHO cho thấy có mối quan hệ rõ ràng giữa tốc độ và số 7 TNGT, theo đó nếu giảm tốc độ của phƣơng tiện xuống 5% thì sẽ giảm số TNGT nghiêm trọng tới 30% [48].
Theo [44], tốc độ càng cao càng làm tăng khả năng xảy ra tai nạn, với mọi mức tốc độ và mọi loại đƣờng, mặc dù các tốc độ và loại đƣờng khác nhau sẽ dẫn đến mức độ tai nạn khác nhau. Nói một cách khác, các tốc độ khác nhau trên cùng một con đƣờng sẽ tƣơng ứng với các xác suất tai nạn khác nhau. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những ngƣời điều khiển phƣơng tiện ở tốc độ cao hơn tốc độ trung bình thƣờng có xác suất xảy ra va chạm cao hơn các lái xe khác. Chƣa có bằng chứng rõ ràng về việc lái xe với tốc độ thấp hơn tốc độ trung bình của dòng giao thông có liên quan đến các vụ va chạm hay không.
Tuy nhiên việc điều khiển phƣơng tiện ở tốc độ chậm trên những tuyến đƣờng cao tốc cũng sẽ tạo ra những hiểm họa tiềm ẩn do có sự khác biệt về tốc độ. Bởi vậy một trong những yêu cầu bắt buộc đối với ngƣời lái xe ở các nƣớc phát triển là phải có khả năng điều khiển phƣơng tiện ở tốc độ trung bình của dòng giao thông. Ngoài ra, ngƣời lái xe chạy quá chậm có thể làm cho các lái xe phía sau mất kiên nhẫn, thiếu kiềm chế khi vƣợt và đây chính là những nguyên nhân đầu tiên dẫn tới va chạm giao thông. Một số kết quả đƣợc công bố bởi [46] tại Thụy Điển cho thấy sự thay đổi trong tốc độ trung bình khoảng 1km/h sẽ dẫn đến thay đổi số tai nạn từ 2% (khi tốc độ giới hạn 120 km/h) tới 4% (khi tốc độ giới hạn 50 km/h).
Kết quả này đƣợc kiểm định với rất nhiều số liệu trƣớc và sau khi áp dụng các giải pháp hạn chế tốc độ ở rất nhiều nơi trên lãnh thổ Thụy Điển cũng nhƣ trên thế giới. Mối quan hệ giữa tốc độ và TNGT ở trên đƣợc công nhận ở rất nhiều nƣớc Bắc Âu, cũng nhƣ Hà Lan và Australia. Một số nghiên cứu khác tại Anh [38] cũng đƣa ra đƣợc mối liên hệ tƣơng tự, dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm bởi tác giả Taylor, kết quả nghiên cứu cho thấy khi tốc độ giao thông thay đổi ±1km/h thì tai nạn thay đổi trong khoảng từ 1-4% với các đƣờng đô thị, và 2,5-5,5% đối với các con đƣờng ở ngoại ô. Những con đƣờng có chất lƣợng mặt đƣờng và tầm nhìn tốt thƣờng có trị số cận dƣới.
Trong khi đó chất lƣợng đƣờng càng xấu, thì biên độ tăng của TNGT càng cao. Tốc độ cao còn làm giảm khả năng phản ứng 8 kịp thời của ngƣời lái xe. Về mặt tự nhiên, ngƣời lái cần có thời gian để tiếp nhận và xử lý thông tin, sau đó quyết định phản ứng nhƣ thế nào và cuối cùng thực hiện phản ứng để đáp lại các yêu cầu từ điều kiện thực tế. Ở tốc độ cao, thời gian và khoảng cách phƣơng tiện di chuyển trong những giai đoạn trên sẽ dài hơn.
Đặc biệt khoảng cách phanh có quan hệ với tốc độ theo hàm số mũ, bởi vậy tốc độ càng cao, cơ hội va chạm càng lớn. Trong nghiên cứu [38], mối quan hệ tổng quát giữa thay đổi tốc độ và thay đổi về số lƣợng tai nạn là khi có sự tăng + 1 km/h về tốc độ sẽ dẫn đến sự tăng + 3% về số tai nạn. Các mối quan hệ định lƣợng ở trên đƣợc nghiên cứu trong những điều kiện cụ thể và không hoàn toàn đúng trong mọi trƣờng hợp. Trong thực tế mối quan hệ giữa tốc độ và TNGT phức tạp hơn rất nhiều, giá trị cụ thể của các biến số trong mô hình phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhƣ tốc độ, loại đƣờng và chất lƣợng mặt đƣờng.
Tuy nhiên có một xu hƣớng đƣợc khẳng định là với tốc độ càng cao, mức độ tăng của tai nạn càng lớn. Mối quan hệ giữa tốc độ và tai nạn là một hàm mũ. Khi tốc độ tăng, tai nạn sẽ tăng và càng tăng nhanh hơn khi tốc độ ở trị số cao hơn. Hình 1-1: Mối quan hệ giữa tốc độ của phƣơng tiện và số vụ tai nạn giao thông.
Điều kiện giao thông trên từng đoạn đƣờng có thể có mức độ phức tạp khác nhau. Mức độ phức tạp này phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhƣ số lƣợng và 9 loại nút giao thông trên đƣờng, nhu cầu và hƣớng di chuyển của ngƣời đi bộ, tỷ lệ ngƣời đi xe đạp, các phƣơng tiện vận tải khác, số lƣợng vị trí đỗ xe dọc trên tuyến đƣờng. Trong những điều kiện đƣờng phức tạp hơn, xác suất xảy ra tai nạn và quy mô tai nạn cũng cao hơn [39]. Đƣờng cao tốc thƣờng có mức độ phức tạp thấp (giao cắt khác mức) trong khi các trục quốc lộ vào các đô thị, có cƣ dân sinh sống hai bên là những khu vực có tính chất phức tạp cao (đi bộ qua đƣờng, đỗ xe.
Hình 1-2: Mối quan hệ giữa loại đƣờng, tốc độ và xác suất xảy ra tai nạn. Trên những con đƣờng cụ thể, nếu biên độ dao động tốc độ lớn, có nhiều trở ngại và có nhiều hiện tƣợng vƣợt sẽ rất khó dự đoán xác suất xảy ra va chạm sẽ diễn biến theo hƣớng nào. nhƣng khi biên độ dao động về tốc độ lớn, cũng dẫn đến gia tăng khả năng xảy ra tai nạn.