Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan Tìm hiểu các nghiên cứu liên quan tới mục tiêu đã định hướng để từ đó xây dựng nội dung thực hiện để đạt được mục tiêu cụ thể. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận Trình bày cơ sở lý thuyết của mô hình từ đó đề xuất phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện. Đồng thời giới thiệu các công cụ sử dụng cho các mô hình đề xuất. Chương 3: Ứng dụng mô hình cho mạng lưới cấp nước quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh và thảo luận Trình bày kết quả xây dựng mô hình đã đề xuất trong Chương 2 cho số liệu của mạng lưới cấp nước thực tế, từ đó thảo luận về tính chính xác và độ tin cậy của mô hình.
Phần kết luận và kiến nghị Kết luận nội dung đã thực hiện, những đóng góp mới của luận án và kiến nghị hướng phát triển trong tương lai. 4 PHẦN NỘI DUNG TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ XÁC ĐỊNH HỆ SỐ DÒNG CHẢY RÒ RỈ Từ vấn đề nghiên cứu, luận văn thu thập các dữ liệu nghiên cứu liên quan đã được công bố quốc tế và trong nước của những nhà xuất bản có uy tín như ASCE, ELSEVIER, AWWA, SCIENCE DIRECT. Khái niệm về dòng chảy rò rỉ Dòng chảy rò rỉ là phần nước bị mất đi trên mạng lưới đường ống, phần nước này thường tồn tại dưới dạng bể ống hoặc rò rỉ trên: - Ống truyền tải và ống phân phối hay các mối nối, phụ tùng thiết bị. Nước rò rỉ loại này thường trào lên trên mặt đất với lượng lớn có thể làm tổn hại đến đường xá và ảnh hưởng tới giao thông trên đường.
Mặc dù làm gián đoạn việc cấp nước nhưng đa số các điểm bể loại này thường không nghiêm trọng vì với kích thước và đặc điểm bể dễ dàng nhận thấy, có thể được báo cáo nhanh chóng và sửa chữa kịp thời hoặc đóng khóa nước ngay khi được phát hiện. - Ống dịch vụ trước khi vào nhà khách hàng. Dạng rò rỉ này thường gây ra một lượng nước thất thoát lớn. Nguyên nhân dẫn đến điểm bể thì có nhiều (như các tác động cơ học, tuổi thọ ống, vật liệu ống, các công trình thi công bên ngoài tác động vào MLCN ngoài ý muốn,.) nhưng dạng điểm bể thì thường chỉ có ba dạng cơ bản như sau: - Rò rỉ nền là lượng nước bị rò rỉ không nhìn thấy được và không thể phát hiện được bằng các biện pháp thông thường.
Dòng chảy rò rỉ nền cũng khó đo đếm lưu lượng vậy nên sẽ không xem xét trong nội dung nghiên cứu này. - Rò rỉ ngầm là lượng nước rò rỉ thường không nhìn thấy được nhưng có thể phát hiện bằng các thiết bị nghe âm thanh trực tiếp. 5 - Rò rỉ nổi thường nhìn thấy và được khác hàng hoặc nhân viên công ty thông báo. Các dạng dòng chảy rò rỉ trên ống cấp nước Hệ số dòng chảy rò rỉ là hệ số đặc trưng của dòng chảy rò rỉ, trong nghiên cứu này sẽ xem xét dòng chảy qua điểm bể trên ống cấp nước dịch vụ trước khi vào nhà khách hàng thuộc dạng rò rỉ ngầm và rò rỉ nổi.
Tổng quan nghiên cứu xác định hệ số dòng chảy lưu lượng nước rò rỉ Tổng quan các nghiên cứu trong nước Mỗi ngày, các công ty cấp nước đều ghi nhận các sự cố vỡ trên tuyến ống đặc biệt là các tuyến ống dịch vụ và vẫn tốn thêm chi phí để tìm rò rỉ trên các tuyến ống cấp I, II [4]. Theo báo cáo của một số công ty cấp nước ở Việt Nam tính đến năm 2014 thì tỉ lệ thất thoát nước lên đến hơn 50% tổng lượng nước đưa vào mạng lưới [5] trong đó những đô thị lớn có tỉ lệ rò rỉ nước tương đối cao như thành phố Hồ Chí Minh tính đến năm 2015 trên HTPPN là 34% gây thất thu trên 950 tỷ đồng 1 năm, hay công ty VIWACO (Hà Nội) lên đến 60% [6]. Vậy nên các nghiên cứu về giảm tỉ lệ này được quan tâm nhiều hơn. Các giải pháp kỹ thuật được áp dụng như giảm áp suất làm việc của đường ống [5] quy hoạch phân vùng tách mạng để nâng cao hiệu quả quản lí mạng lưới cấp nước [7].
Hay các đề xuất xác định vị trí rò rỉ bằng công nghệ phát hiện rò rỉ [8] và tự động hóa kết hợp các thiết bị cảm biến [9]. Tuy nhiên thực hiện các giải pháp này các công ty cấp nước cần có thời gian, nguồn nhân lực và chi phí tương đối lớn. Vậy nên ước lượng 6 chính xác lưu lượng nước rò rỉ không những phục vụ cho công tác vận hành MLCN mà còn là cơ sở để giảm thiểu tỉ lệ nước bị thất thoát trên đường ống cấp nước tốt hơn. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Tổng hợp nội dung nghiên cứu về dòng chảy rò rỉ trên MLCN cho thấy có bốn hướng nghiên cứu chính đó là mô phỏng thuỷ lực; mô hình toán; mô hình thí nghiệm; thống kê dữ liệu và khảo sát thực tế (Bảng 1.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dòng chảy rò rỉ đi qua điểm bể sẽ làm biến dạng điểm bể và hình dạng dòng chảy phụ thuộc vào áp lực nước trong ống, môi trường đất ngoài cũng như diện tích lỗ rò rỉ. Tổng quan các nghiên cứu về dòng chảy rò rỉ Hệ số Phương Hệ số Công dòng T pháp mũ thức Nội dung nghiên cứu chảy rò T nghiên rò rỉ sử rỉ cứu (n) dụng (Cd) Mô Khép van để quan sát sự thay đổi lưu lượng 0,18 0,00 phỏng 1 nước rò rỉ theo áp lực trên mạng lưới và xác đến đến - thuỷ lực định n, Cd theo dữ liệu thu được [10]. 3,33 3,68 MLCN Sử dụng phần mềm phân tích tích phần tử hữu 2x10-5 0,5 Mô hình hạn, nghiên cứu tập trung xem xét biến dạng đến (1); 2 đến toán số hình học của điểm bể ảnh hưởng tới hệ số dòng 1,8x10 - (2) 1,5 chảy rò rỉ [11]. 4 Mô hình Thí nghiệm xem xét dòng chảy đi qua điểm bể -0,262 0,382 3 thí trên những đoạn ống ngắn có vật liệu khác đến đến (2) nghiệm nhau [12].
1,841 0,945 Tạo điểm bể trên thành ống với các hình dạng khác nhau và đánh giá dòng chảy ra khỏi điểm Mô hình 0,77 bể. Thí nghiệm ghi nhận được áp lực nước, lưu 4 thí 0,5 đến (1) lượng dòng chảy và diện tích điểm bể. Từ đó nghiệm 0,806 tác giả sử dụng công thức lý thuyết để xác định hệ số dòng chảy Cd [13]. 7 Hệ số Phương Hệ số Công dòng T pháp mũ thức Nội dung nghiên cứu chảy rò T nghiên rò rỉ sử rỉ cứu (n) dụng (Cd) Sử dụng phần mềm ANSYS để mô phỏng dòng 0,65 Mô hình 5 chảy rò rỉ và tính toán lưu lượng bằng công 0,5 đến (1) toán số thức lý thuyết [14].
0,72 Thống kê Tác giả tổng hợp số liệu từ các nghiên cứu và số liệu xác định hệ số mũ rò rỉ tại một điểm bể trên 0,5 đến 6 và khảo MLCN. Vì chỉ đánh giá sự thay đổi của lưu - (3) 2,0 sát thực lượng/áp lực tại một điểm bể nên hệ số dòng tế chảy rò rỉ bị loại trừ trong công thức này [15]. * Ghi chú: 𝑄 = 𝐶𝑑 𝐴√2𝑔ℎ0 (1) 𝑄 = 𝐶𝑑 √2𝑔(𝐴0 ℎ0,5 + 𝑚ℎ1,5 ) (2) - Cd là hệ số lưu lượng; 𝑣ớ𝑖 A = 𝐴0 + mh - A là diện tích lỗ rò rỉ; - A0 là diện tích ban đầu của điểm bể; - g là gia tốc trọng trường; - A là diện tích điểm bể khi dòng chảy đi qua; - h0 là giá trị cột áp. - m là độ dốc dòng chảy có áp.
L1/L0 = (P1/P0)n (3) - P0, L0 là áp lực và lưu lượng tại thời điểm ban đầu - P1, L1 là áp lực và lưu lượng sau khi giảm áp lực. - n là hệ số mũ rò rỉ. Hệ số mũ rò rỉ (n) trong Bảng 1.1 dao động từ -0,262 đến 3,33 và hệ số dòng chảy (Cd) nhận giá trị từ 0 đến 0,945, trong đó có nghiên cứu thứ 1 và thứ 3 xuất hiện giá trị n < 0,5. Nghiên cứu thứ 1 áp lực thay đổi tương đối lớn (từ 20-30m) nên dẫn đến các giá trị n < 0,5; khi áp lực thay đổi ít hơn thì n nhận các giá trị từ 3,33, tuy nhiên áp lực trung bình xét cho một khu vực cấp nước nên giá trị tương đối lớn (từ 26,9m đến 99,2m).
Nghiên cứu thứ 3 thí nghiệm cho dòng chảy rò rỉ chảy ra ngoài khí trời, lúc này điều kiện môi trường khác hoàn toàn so với điều kiện làm việc của ống cấp nước thực tế nên xuất hiện n < 0. Nghiên cứu thứ 2, 4, 5 sử dụng mô hình toán và thí nghiệm thực tế để xác định đặc điểm của dòng chảy rò rỉ, tuy nhiên, các mô phỏng lại dựa trên công thức (1), đây là công thức áp dụng trong điều kiện dòng chảy qua lỗ ra ngoài khi trời [16] nên giá trị hệ số n và Cd có ý nghĩa trong phạm vi lý thuyết. Đồng thời, trên MLCN thực tế rất khó để xác 8 định tiết diện điểm bể (A) cũng như môi trường đất bên ngoài ống (m), như vậy cần một công thức đơn giản hơn để xác định hệ số dòng chảy rò rỉ. Nghiên cứu 6 có thể áp dụng cho MLCN thực tế nhưng cần mở rộng cho tất cả các điểm bể trên mạng lưới và nghiên cứu thêm khoảng giá trị hệ số dòng chảy rò rỉ.
Nội dung nghiên cứu Kế thừa và phát triển kết quả của các nghiên cứu đã thực hiện, luận văn đưa ra nội dung nghiên cứu cụ thể như sau: - Nội dung 1: Đề xuất cơ sở khoa học ước lượng hệ số dòng chảy rò rỉ. - Nội dung 2: Xây dựng mô hình ước lượng hệ số dòng chảy rò rỉ sử dụng lý thuyết logic mờ và phần mềm MATLAB. - Nội dung 3: Áp dụng cho khu vực nghiên cứu là mạng lưới cấp nước quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát thực tế để lấy dữ liệu lưu lượng và áp lực rò rỉ trên mạng lưới cấp nước để xác định khoảng giá trị của hệ số dòng chảy rò rỉ theo các yếu tố của dòng chảy rò rỉ.
Kết luận chương 1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây nghiên cứu đã cho thấy trong điều kiện hoạt động bình thường của MLCN các điểm bể trên đường ống cấp nước có lưu lượng áp lực nước phụ thuộc tuyến tính thông qua các hệ số của dòng chảy rò rỉ ra khỏi ống. Như vậy, để xây dựng mô hình xác định hệ số của dòng chảy rò rỉ cần có phương trình quan hệ giữa các yếu tố này.