CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) đang đứng trước thách thức to lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ đời sống vật chất sung túc, cụ thể trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người. Do đó, để quản lý môi trường có hiệu quả, trước hết cần thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT. Học sinh phổ thông trung học (PTTH) là một lực lượng chiếm số lượng lớn trong xã hội, phân bố rộng trên mọi miền của đất nước và sống gắn liền với gia đình, khả năng tiếp thu kiến thức mới cao và truyền đạt lại kiến thức về môi trường này cho cộng đồng dân cư tương đối dễ dàng.
Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, lực lượng này được đánh giá là có tiềm năng trong việc xây dựng các chương trình giáo dục môi trường. Tuy nhiên hiện nay, các chương trình nâng cao nhận thức học sinh trường trung học phổ thông (THPT) vẫn chưa được chú trọng quan tâm, hoặc có thực hiện nhưng còn rời rạc hay còn mang tính chất phong trào, thi đua. Bên cạnh đó, các hình thức giáo dục môi trường trong nhà trường chưa được học sinh thích thú, tham gia. Vì vậy, việc xây dựng các chương trình nâng cao nhận thức phù hợp cho học sinh trong bảo vệ môi trường là một việc làm cấp bách và thiết thực.
Trường THPT Trương Vĩnh Ký là một trong những trường THPT của huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, học sinh trường có nhiệt huyết tham gia các hoạt động xã hội, tuy nhiên, vẫn chưa có điều kiện tham gia thường xuyên và tập trung, lãnh đạo nhà trường và cán bộ quản lý địa phương đều nhiệt tình ủng hộ cho các hoạt động phong trào về BVMT. Đề tài “Nghiên cứu, thực hiện mô hình truyền thông môi trường dành cho học sinh phổ thông trung học” đặt ra với mong muốn thiết lập phương pháp luận, đề xuất các hình 1 thức nâng cao nhận thức về BVMT phù hợp, dựa vào lực lượng học sinh PTTH, trong việc xây dựng và triển khai hiệu quả công tác truyền thông môi trường (TTMT) cho cộng đồng dân cư địa phương, từ đó tạo tiền đề cho các hoạt động phong trào về nâng cao nhận thức cộng động ngày càng được quan tâm và lan rộng. Mục tiêu nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 1. Mục tiêu Đánh giá nhận thức và khả năng của học sinh PTTH trong công tác TTMT.
Thực hiện chương trình truyền thông bao gồm nhiều mô hình TTMT cho học sinh trường THPT Trương Vĩnh Ký- huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Đề xuất các mô hình truyền thông hiệu quả, chuyển giao cho Đoàn trường duy trì và nhân rộng mô hình cho các trường THPT khác. Nội dung - Tổng quan các dự án, chương trình đã được thực hiện về tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác BVMT tại tỉnh Bến Tre. - Đánh giá hiệu quả các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác BVMT đã thực hiện tại tỉnh Bến Tre.
Phân tích những thuận lợi và hạn chế khi triển khai thực hiện các chương trình này. - Khảo sát, đánh giá mức độ nhận thức về BVMT, nhu cầu và khả năng thực hiện công tác TTMT của học sinh trường THPT Trương Vĩnh Ký. - Thực hiện các mô hình TTMT đã đề xuất thông qua việc thực hiện dự án nâng cao nhận thức về BVMT dành cho học sinh PTTH. Phạm vi nghiên cứu Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Trương Vĩnh Ký (ấp Vĩnh Hưng 1, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) Đối tượng nghiên cứu: Học sinh học tập tại trường và học sinh của trường sinh sống dọc theo Quốc lộ 57 (đoạn qua nhà thờ Cái Mơn).
Thời gian thực hiện: từ ngày 20/09/2011 đến ngày 20/12/2011. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp thu thập thông tin Thông tin thu thập bao gồm: Báo cáo hiện trạng môi trường Bến Tre (2005-2010), các văn bản hướng dẫn thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng, báo cáo tổng hợp Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm môi trường tỉnh Bến Tre, báo cáo thực hiện các chương trình hành động về BVMT của tỉnh Đoàn Bến Tre, các văn bản pháp luật quy định về BVMT. Phương pháp điều tra xã hội học Thông qua các phiếu điều tra thực tế, tìm hiểu mức độ quan tâm, ý thức và trách nhiệm của học sinh trường THPT Trương Vĩnh Ký đối với các hoạt động BVMT và hình thức TTMT phù hợp với học sinh.
Khảo sát thực tế Bao gồm khảo sát hiện trạng môi trường huyện Chợ Lách, khảo sát nhận thức BVMT của học sinh tại trường và nơi cư ngụ, vấn đề môi trường cấp bách, khảo sát nhận thức và mức độ tham gia của học sinh trong công tác TTMT. Phương pháp xử lý số liệu, phân tích, đánh giá Thông tin khảo sát nhận thức, khảo sát hiện trạng môi trường, sử dụng phần mềm Microsoft Excel tổng hợp và phân tích, từ đó đưa ra đánh giá chung về nhận thức học sinh. Thông tin thu thập được phân tích, đánh giá về khả năng và vai trò của học sinh vào việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia Trao đổi, thảo luận với thầy cô, các chuyên viên nghiên cứu chuyên ngành về phương pháp tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội.
Từ đó, đề xuất và thực hiện chương trình truyền thông thích hợp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hỗ trợ cho công tác BVMT nói chung và kế hoạch nâng cao nhận thức, quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bến Tre nói riêng. 3 Chương trình thực hiện có thể coi là bước đầu, nhằm tạo cơ sở cho việc phát triển các phong trào TTMT hiệu quả trong cộng đồng tại Việt Nam, cụ thể là tại các trường THPT. Lý thuyết truyền thông môi trường 2.
Khái niệm Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính chất xã hội. Truyền thông thường gồm 3 phần chính: nội dung, hình thức và mục tiêu. Nội dung truyền thông gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm giúp những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác động vào các vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải quyết các vấn đề về môi trường. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của truyền thông môi trường Mục đích của truyền thông môi trường phải gắn liền với cộng đồng qua các nội dung cụ thể sau: - Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạng của họ, từ đó quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục. - Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào các chương trình BVMT.
- Thương lượng, hòa giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các cơ quan trong nhân dân. - Thông qua đối thoại thường xuyên trong xã hội khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu hơn. 5 - Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc BVMT, xã hội hóa công tác BVMT. Yêu cầu của truyền thông môi trường: Mục tiêu phải phù hợp với nhu cầu và sát với thực tế của cộng đồng.
Các mục tiêu chung của chương trình truyền thông quốc gia hay quốc tế cần được cụ thể hóa với hoàn cảnh của địa phương: - Ngôn ngữ truyền thông phải dễ hiểu và phù hợp với cộng đồng. - Phải lặp lại nhiều lần, đây là yêu cầu cơ bản để người nhận thông điệp nhớ, tin và làm theo. - Đa dạng hóa tối đa các phương tiện truyền thông. - Tuân thủ pháp luật, kể cả các quy định cấp quốc tế, quốc gia và cấp địa phương về BVMT.
- Đảm bảo tính hiện đại, chính xác của các kiến thức, thông tin của môi trường được truyền thông. - Nội dung, hình thức của chương trình phải phù hợp với đối tượng truyền thông, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, nơi đối tượng truyền thông được truyền thông sinh sống. - Phải có tính hệ thống, kế hoạch và chiến lược. Mỗi một chương trình thực hiện trước sẽ là bước đệm cho các chương trình tiếp theo.
- Tạo ra sự hợp tác rộng rãi giữa TTMT với các chương trình truyền thông khác đang được thực hiện ở địa phương. Ý nghĩa của truyền thông môi trường Truyền thông môi trường cần phải được xem như là công cụ cơ bản trong công tác quản lý môi trường nhằm xã hội hóa BVMT. Nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ hoặc hành vi của con người trong cộng đồng, từ đó thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động BVMT từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất và không chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn những người khác cùng tham gia tạo ra các kết quả có tính đại chúng. Tóm lại TTMT có ba ý nghĩa chính trong công tác quản lý môi trường: 6 (1) Thông tin cho các đối tượng cần truyền thông biết tình trạng quản lý môi trường và BVMT của địa phương, từ đó lôi cuốn họ cùng quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
(2) Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết của tập thể và cá nhân vào các chương trình, kế hoạch hóa bảo vệ môi trường. (3) Thương lượng, hòa giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các tổ chức và trong cộng đồng. Cách tiếp cận và phương pháp truyền thông môi trường 2. Cách tiếp cận - Tiếp cận cá nhân: Dựa trên các quan hệ cá nhân với nhau.
Hình thức tiếp cận này bao gồm đến nhà, đến cơ quan, gọi điện thoại, gửi thư, … - Tiếp cận nhóm: Dựa trên mối quan hệ đa dạng hơn giữa các cá nhân với nhau trong một nhóm, giữa cá nhân với nhóm. Hình thức của cách tiếp cận này bao gồm tổ chức hội thảo, lớp học, học nhóm, tổ chức tham quan, khảo sát, .