CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ THỂ THAO TRONG TRƯỜNG HỌC. Công tác Thể dục thể thao nói chung và Giáo dục thể chất và Thể thao trường học nói riêng được Đảng và nhà nước ta quan tâm chỉ đạo bằng việc hoạch định đường lối, quan điểm Thể dục thể thao và được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương, đường lối của Đảng. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt của Đảng là: "Con người là vốn quý nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bảo vệ và bồi dưỡng sức khỏe của con người là nghĩa vụ và mục tiêu cao quý của các ngành y tế Thể dục thể thao dưới chế độ ta, và chính vì thế mà Đảng và Chính phủ ta rất coi trọng ngành y tế và Thể dục thể thao" [78]. Trước hiện trạng sự nghiệp Thể dục thể thao của đất nước nói chung và công tác Thể dục thể thao trường học nói riêng đang có nhiều bất cập và hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đất nước. Tháng 12/2011, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết đã chỉ rõ: "Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả" [4]. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 "Phấn đấu 90% học sinh sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể", Nghị quyết đã đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học.
Trong thời kỳ đổi mới ở từng giai đoạn lịch sử Đảng luôn quan tâm đến sức khỏe nhân dân, qua đó có những quan điểm chỉ đạo công tác TDTT và đặt biệt là TDTT trong nhà trường nhằm nâng cao tầm vóc và thể lực cho người Việt Nam góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 6 Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước có những chính sách về công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới như sau: Luật Giáo dục (2019) xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “…giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa …” [42, tr. Qua đó cho thấy giáo dục thể chất là một mặt rất quan trọng trong giáo dục toàn diện cho con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kết quả trên ghi một dấu ấn mới cho sự phát triển Thể dục thể thao của nước nhà.
Đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước, Chính phủ và các bộ ngành tăng cường trách nhiệm đối với công tác Thể dục thể thao nói chung, hoạt động Giáo dục thể chất và thể thao trong trường học nói riêng. Nhằm đưa công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường trở thành một bộ phận quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo, cũng như xác định đúng đắn về vị trí giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường các cấp. Chiến lược phát triển thể thao chỉ rõ: "Công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực. Quyết định số 641/QĐ-TTg, Về việc phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030 [57].
Nghị định Quy định về Giáo 7 dục thể chất và hoạt động Thể thao trong nhà trường: “Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [60]. Phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển giáo dục Thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm 2025” [61]. Phê duyệt Chương trình Sức khỏe Việt Nam một trong những giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ là: Tăng cường vận động thể chất cho trẻ em, học sinh, sinh viên: + Tổ chức tốt các chương trình giáo dục thể chất trong trường học; bảo đảm không gian, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các hoạt động luyện tập, rèn luyện thể dục, thể thao của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục theo quy định. + Duy trì các hoạt động thể dục đầu giờ, giữa giờ và bảo đảm số giờ thể dục trong chương trình chính khóa.
Tổ chức đa dạng các loại hình vận động thể lực ngoại khóa, tăng cường vận động thể lực thông qua các sinh hoạt, vui chơi giải trí có tính chất vận động ở trường và hạn chế thời gian ngồi lâu tại chỗ. Bảo đảm mỗi học sinh tối thiểu được vận động thể lực 60 phút trong một ngày [63]. Phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường với 5 nội dung và 07 nhiệm vụ giải pháp để nâng cao chăm sóc sức khỏe cho học sinh [64]. Thủ Tướng Chính phủ cũng ban hành chiến lược phát triển Thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 theo quyết định số 1331/QĐ-TTg, ngày 24/7/2021 [65] trong 6 mục tiêu của chiến lược có mục tiêu 4.
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho thanh niên và mục tiêu 5. Nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho thanh niên. Từ những chính sách đúng đắn của Nhà nước trong những năm qua TDTT Việt Nam sớm hội nhập quốc tế, có nhiều cơ hội tiếp cận với xu thế toàn 8 cầu. Trong những năm gần đây, chính phủ ngày càng quan tâm và tích cực tham gia chỉ đạo, tổ chức các hoạt động TDTT quần chúng, nhất là tăng cường đầu tư xây dựng các công trình công cộng về TDTT và thúc đẩy phát triển, kinh doanh dịch vụ TDTT giải trí; chương trình giáo dục thể chất trong các cơ sở giáo dục đào tạo các cấp được cải cách theo hướng HS, SV được tự chọn các nội dung hoạt động TDTT phù hợp với thể trạng tâm - sinh lý cá nhân.
Được sự chỉ đạo Bộ GD&ĐT ban hành các thông tư, quyết định về công tác Thể thao ngoại khóa cho HS, SV như: Quyết định số 14/2001/QĐ- BGDĐT: “giờ học nội khóa là giờ học môn thể dục, sức khỏe theo chương trình quy định; còn hoạt động TDTT ngoại khóa được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục” [8]. Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóa cho HS, SV [11] với mục đích tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường nhằm động viên, khuyến khích học sinh, sinh viên tự giác tham gia tập luyện thể thao; hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên cho học sinh, sinh viên. Thông tư số 48/2020/QĐ- BGDĐT về việc Qui định về hoạt động thể thao trong nhà trường. Nêu rõ nội dung tổ chức hoạt động thể thao, nhiệm vụ và quyền của giáo viên, giảng viên giảng dạy GDTC [12].
“Hoạt động thể thao ngoại khoá phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, xây dựng kế hoạch phù hợp và đảm bảo về tài chính, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ, đáp ứng nhu cầu của học sinh, sinh viên. Tại Hội nghị “Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và thể thao trường học” trong ngành Giáo dục vào ngày 23/02/2019 tổ chức tại Trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã có thông báo kết luận: “…Để nâng cao chất lượng GDTC và thể thao trường học, thời gian tới toàn ngành cần tập trung thực hiện:…Thay đổi nhận thức về mục đích, vai trò và tác dụng của GDTC, thể thao trường học, trước hết là ngay trong ngành Giáo dục, từ đó tạo sự lan tỏa trong toàn xã hội, nhìn nhận GDTC, thể thao trường học 9 đóng vai trò quan trọng, là hoạt động vận động không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mỗi học sinh, sinh viên và các thầy cô giáo. Làm tốt công tác GDTC cho học sinh, sinh viên sẽ tạo được nền móng vững chắc cho sự phát triển bền vững, lâu dài đối với sức khỏe, thể chất, trí tuệ con người…” [13]. Theo chương trình số 217/CTr-BGDĐT-BVHTTDL, ngày 04/3/2022, về việc Chương trình phối hợp giữa Bộ GD&ĐT với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2022 – 2026 trong đó một trong những mục đích công tác GDTC và hoạt động thể thao trường học là “Đổi mới nội dung và hình thức tổ chức hiệu quả hoạt động thể thao trường học, tăng cường công tác xã hội hóa, chú trọng phát triển các hội và các câu lạc bộ thể dục, thể thao trong trường học, phát triển các môn thể thao dân tộc; tăng cường công tác phòng chống đuối nước cho học sinh, sinh viên” [15].
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TDTT NGOẠI KHÓA CHO SINH VIÊN. Một số khái niệm Mô hình Vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu [119], [82]. Theo Đặng Thành Hưng (2017), Mô hình là đồ vật thay thế hay ý niệm (tư duy có chủ định) phản ánh một sự vật hay quá trình có thật đang tồn tại hoặc có thể sẽ xuất hiện trong thế giới, cho biết những thuộc tính bản chất nhất, những nguyên lí cơ bản nhất, những đặc điểm nổi bật nhất hiện có hoặc sẽ có của nó một cách tinh giản, khái quát và minh bạch [28]. Trong định nghĩa trên cũng đã phản ánh những tính chất chung nhất của mọi mô hình.
Khi mô hình là đồ vật thì gọi là mô hình vật chất. Khi mô hình là tư duy thì gọi là mô hình lí thuyết (hay mô hình quan niệm). Thường người ta kết hợp hai kiểu mô hình này trong nghiên cứu. căn cứ vào chức năng cụ thể của mô hình (dù là kiểu nào) thì có thể phân chia mô hình thành các loại sau: 10 - Mô hình cấu trúc hay tổ chức.
- Mô hình vận hành hay hoạt động. - Mô hình nguyên lí chung (thường là các lí thuyết, học thuyết) [29], [94].