Chương 1: Chương này tác giả nêu lên lý do chọn đề tài; sau đó xác định mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng như đưa ra ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Chương này tác giả trình bày sơ lược những lý thuyết cơ bản về đất đai; phương pháp thẩm định giá hàng loạt và ứng dụng phương pháp trong quản lý nhà nước về đất đai. Chương 3: Chương này tác giả trình bày tổng quan các bài nghiên cứu có liên quan, sau đó tiến hành xây dựng mô hình thẩm định giá hàng loạt cho địa bàn nghiên cứu là quận Bình Thạnh. Chương 4: Tác giả trình bày kết quả đạt được của đề tài nghiên cứu và ứng dụng kết quả để ước tính giá đất cho địa bàn quận Bình Thạnh.
Chương 5: Tác giả đưa ra kết luận cho đề tài nghiên cứu, đồng thời đề xuất ứng dụng phương pháp thẩm định giá hàng loạt cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Cuối cùng, tác giả nêu lên kiến nghị liên quan đề tài.7 Ý nghĩa của đề tài Hiện nay, công tác thẩm định giá nói chung và công tác xây dựng bảng giá đất hàng năm nói riêng chủ yếu sử dụng các phương pháp thẩm định giá truyền thống, phương pháp thẩm định giá hàng loạt chưa được sử dụng rộng rãi cũng như chưa được tiếp cận bởi đa phần thẩm định viên, do hệ thống cơ sở lý luận về phương pháp này chưa được hoàn thiện, các văn bản hướng dẫn còn chưa có. Việc nghiên cứu đề tài này nếu thành công sẽ góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở lý luận về phương pháp thẩm định giá hàng loạt tại nước ta, có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp một công cụ hữu ích, mang tính xác thực phục vụ cho công tác thẩm định giá đất ở trên địa bàn quận Bình Thạnh và có thể mở rộng cho các quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về đất đai. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Cơ sở lý luận về đất đai: 2.1 Định nghĩa về đất đai: Theo Lê Quang Trí (1998): Đất đai là một thực thể tự nhiên dưới đặc tính không gian, địa hình và thường được kết hợp với một giá trị kinh tế được diễn tả dưới dạng giá đất/ha khi chuyển quyền sử dụng. Rộng hơn, trên quan điểm tổng hợp và tổng thể thì đất đai cũng bao gồm cả tài nguyên sinh vật và kinh tế - xã hội của một thực thể tự nhiên. Theo Brikman và Smyth (1976): Đất đai về mặt địa lý là vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất, có những đặc tính mang tính ổn định hay có chu kỳ dự đoán được, trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai. Theo Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil (1993): Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa).2 Phân loại đất đai: Theo Luật đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: 6 - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thuỷ sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm mục đích sử dụng để xây nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; chăn nuôi gia súc gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép… Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất: - Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; - Đất xây dựng trụ sở cơ quan.
- Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; - Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ; - Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; - Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; 7 - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; - Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ; - Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Thẩm định giá hàng loạt: Hiện nay trên thế giới, về cơ bản thẩm định giá trị đất đai được tiến hành dựa trên 6 phương pháp gồm: Phương pháp so sánh giá bán; phương pháp chiết trừ; phương pháp phân bổ; phương pháp vốn hóa tiền thuê đất, phương pháp vốn hóa thu nhập từ đất và phương pháp thặng dư. Nguồn: Giáo trình thẩm định giá Bất Động Sản do Nguyễn Ngọc Vinh và Nguyễn Quỳnh Hoa đồng chủ biên. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động thẩm định giá và phương pháp xác định giá đất được hướng dẫn cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 và thông tư 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014.
Các văn bản này thay thế Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004; Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 và thông tư số 145/2007/TT-BTC. Nội dung hướng dẫn thẩm định giá trị đất đai gồm 5 phương pháp cụ thể là: Phương pháp so sánh trực tiếp; phương pháp chiết trừ; phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Nhìn chung các phương pháp nêu trên đã mang lại nhiều đóng góp tích cực cho công tác thẩm định giá. Tuy nhiên, giới hạn của các phương pháp này là chỉ sử dụng tốt khi tiến hành thẩm định giá cho các BĐS riêng lẻ mà không thể triển khai thực hiện công tác thẩm định giá trên diện rộng với quy mô lớn như thẩm định giá đất cho cả một khu vực.
Hiện nay, ở một số nước trên thế giới đã và đang khắc phục hạn chế này bằng việc áp dụng phương pháp thẩm định giá hàng loạt, dựa trên phương pháp phân tích hồi quy có thể thẩm định giá cho cả một khu vực dựa trên dữ liệu thu thập từ thực tế thị trường một cách khách quan và khoa học. Khái niệm về thẩm định giá hàng loạt: Tại một số nước trên thế giới, thẩm định giá hàng loạt đã được sử dụng và phát triển từ những năm 1970 (John Q.Ebert 1965 ở Lansing; Michigan 1970 ơ Spartanbug Country, South Carolina), phương pháp này hầu hết được sử dụng để xác định thuế cũng như là công cụ quản lý nhà nước về đất đai. Điểm nổi trội của phương pháp này là sự kết hợp giữa các phép toán và kiểm tra thống kê. Thẩm định giá hàng loạt được khái quát bởi một số định nghĩa sau: Theo Hiệp hội quốc tế của nhà thẩm định giá vì mục đích thuế (The international Association of Assessing officers – IAAO 2012), thẩm định giá hàng loạt (Mass appraisal) là quá trình định giá có hệ thống về một nhóm tài sản vào một thời điểm nhất định, áp dụng những phương pháp được chuẩn hoá và kiểm tra thống kê.
Theo Kathman (1993) thẩm định giá hàng loạt là việc thẩm định một loạt các bất động sản tại cùng một thời điểm cụ thểtheo tính khách quan và sử dụng các phương pháp kiểm tra thống kê. Theo Smeltzer (1986) thẩm định giá hàng loạt là quá trình xác định giá trị một loạt các bất động sản thông qua việc phân tích dữ liệu bởi các phương pháp kiểm tra thống kê. Theo Tom Kauko và Maurizio d’Amato (2008) thẩm định giá hàng loạt đề cập đến đối tượng thẩm định là một nhóm bất động sản thay vì bất động sản riêng lẻ, với việc ước tính giá trị thông qua các hệ thống đã được chuẩn hóa. Theo hướng dẫn số 13 của Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế năm 2005, thẩm định giá hàng loạt là quá trình thẩm định giá nhiều tài sản khác nhau tại một thời điểm xác định, theo một hệ thống đồng nhất về các phương pháp, kỹ thuật thực hiện để đánh giá và phân tích thống kê số liệu thu được.
Nhìn chung, thẩm định giá hàng loạt là phương pháp thẩm định giá một nhóm bất động sản với số lượng lớn, thông qua việc phân tích thông tin dữ liệu thu thập từ thị trường bởi các phép toán, mô hình kiểm tra thống kê. Chức năng của thẩm định giá hàng loạt: 9 Theo Ecker (1990) thẩm định giá hàng loạt gồm ba chức năng chính sau: Một là tái thẩm định giá. Thông qua thực hiện quá trình phân tích xem giá trị của bất động sản có phù hợp với thị trường không với công cụ cơ bản cho việc phân tích là nghiên cứu, thống kê các hệ số, tỷ lệ để so sánh đối chiếu giữa giá trị thị trường với giá trị được thẩm định. Hai là duy trì số liệu.
Thông qua quá trình lưu trữ và cập nhập những thay đổi về số liệu quá khứ. Ba là cập nhật giá trị. Thông qua những sự điều chỉnh hàng năm của những bất động sản liên quan đến quá trình tái thẩm định. Phạm vi ứng dụng của thẩm định giá hàng loạt: Hầu hết các nước trên thế giới (Mỹ, Úc, Thụy Điển, Liên Bang Nga.