Chương 1: Lý luận chung về truyền thông phát triển và vai trò của truyền hình trong hoạt động thông tin tuyên truyền về phát triển mô hình sinh kế Chương 2: Thực trạng truyền thông về mô hinh sinh kế trên sóng truyền hình địa phương Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương. 12 CHUONG 1: LY THUYET CHUNG VE TRUYEN THONG PHAT TRIEN, TRUYEN HINH DIA PHUONG VA VAN HOA VUNG TRONG TRUYEN THONG VE MÔ HÌNH SINH KE 1. Cac khái niệm liên quan - Biến đối khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyền, thuỷ quyền, sinh quyền, thạch quyền hiện tại va trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên va nhân tao [27, tr. - Phát triển bền vững: là một phương thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thé hệ mai sau.
Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thé hệ nhăm không ngừng nâng cao chat lượng sống của con người [27, tr. - Sinh kế: Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện. Theo đó, sinh kế bao gồm năng lực, tải sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu, tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống.
Tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai các chương trình hoạt động phát triển cộng đồng giải thích rằng sinh kế là “tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm dé đạt được mục tiêu và các ước nguyện của họ” Trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao gồm các khả năng các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [DFID, 1999, tr. 13 Ở Việt Nam khái niệm sinh kế được giải thích trong Từ điển Tiếng Việt với nghĩa “sinh kế là việc làm dé kiếm ăn, dé mưu sống” [Viện Ngôn ngữ hoc, 2002]. Sinh kế là cách mưu sinh của một người hoặc một nhóm người phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lực năng lực ra quyết định và những hoạt động kiếm sống nhằm đạt được những mục tiêu và ước nguyện của họ. Tuy nhiên để mưu sinh, con người luôn phải chịu áp lực và mọi phía, đó là các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường.
Trong các yếu tô tác động đến sinh kế, yếu tố khí hậu môi trường có những tác động ngày càng mạnh. Tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sông sinh kế của cộng đồng dân cư đặc biệt là cộng đồng dân cư nghèo. Một sinh kế gồm có những kha năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thê đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R.
Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các van dé cap hộ, bao gồm những van đề như thành phan của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chat và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996). Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sông mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Và sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi sau các cú sốc hoặc cải thiện năng lực, tải sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.
Khai niệm cho thay “sinh ké” bao gom cac nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thê tạo ra thu 14 nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đôi để đáp ứng nhu cầu của họ. Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đây quá trình phát triển sinh kế của cộng đồng. - Mô hình sinh kế: Mô hình theo định nghĩa Từ dién tiếng Việt [Hoàng Phê, 2011] là hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó dé nghiên cứu đối tượng đó. Như vậy, mô hình sinh kế là một hệ thống sinh kế mà ở đó con người là chủ thế tác động lên các nguồn lực sinh kế dé hình thành nên các hoạt động sinh kế nhằm thực hiện chiến lược sinh kế tạo ra kết quả sinh kế.
Hay hiểu don giản, mô hình sinh kế là cách thức t6 chức hoạt động cần có dé bảo đảm phương tiện sinh sống. - Khung sinh kế: là một công cụ được xây dựng nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của con người và tác động qua lại giữa chúng. Dé duy tri sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ.
Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ. [DFID (1999), Sustainable Livelihoods Guidance Sheets] Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau: + Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người. Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuôi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có san.
+ Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuôi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ. + Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào dé sử dụng cho mục đích sinh kế như đất dai, nguồn nước, cây trông, vật nuôi, mùa mảng v. 15 Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên.
Trong các chương trình di dân tai định cư, việc di chuyên dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ. + Nguôn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuât, di lại, thông tin v. + Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng. Khung sinh kế (Nguồn: Bộ phát triển quốc tế Anh quốc (DFID) Mỗi hộ dân là một bộ phận cau thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng.
Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên 5 loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điêu kiện tự nhiên của địa ban cộng đồng sinh sông; Các cơ sở hạ tang xã hội hồ trợ 16 cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v - Khung sinh kế bền vững: được coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vân đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau. Về mặt khái niệm, các tiếp cận này có nguồn gốc từ các nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nỗi bật nhất là các phân tích của Amartya Sen , Robert Chambers và một số học giả khác. Nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hoạt động phát triển, các tiếp cận sinh kế bền vững (sustainable livelihood approaches) là kết quả của cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu và thực hành phát triển về phát triển nông thon. Trong đó, khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) thúc đây [Carney (ed.), 1998] được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi.
Ở Việt Nam, các tiếp cận sinh kế bền vững, nhất là khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, đã được ít nhiều thảo luận. Tóm lại, các quan điểm về sinh kế bền vững đều hướng đến mối quan hệ mang tính vững chắc như kiềng ba chân giữa 3 yếu tố: kinh tế - môi trường - xã hội. Đây cũng được xem là mục tiêu mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Truyền thông phát triển về các mô hình sinh kế 1.