Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mô hình quản lý điểm đến thúc đẩy tiến đồng sáng tạo trình trải nghiệm. Luan van 4 Chương 2: Phân tích thực tiễn về hoạt động quản lý điểm đến thúc đẩy tiến trình đồng sáng tạo trải nghiệm tại Đà Nẵng. Chương 3: Phát triển mô hình quản lý điểm đến thúc đẩy tiến trình đồng sáng tạo trải nghiệm tại Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Mặc dù các công trình nghiên cứu về trải nghiệm đồng sáng tạo trên thế giới khá phong phú nhưng tại Việt Nam có phần còn hạn chế.
Vì vậy, đề tài chủ yếu tham khảo lý thuyết từ nguồn tài liệu nước ngoài. Các nghiên cứu thực hiện ở nhiều bối cảnh du lịch khác nhau, trên phạm vi doanh nghiệp du lịch và điểm đến du lịch, đồng sáng tạo đã được sử dụng để làm rõ những thay đổi hiện tại trong chuỗi cung ứng du lịch, phân tích trải nghiệm tổng thể của điểm đến và các phương pháp nhằm gia tăng trải nghiệm đồng sáng tạo. Đa số các nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò chiến lược của đồng sáng tạo trong du lịch đối với việc xây dựng lợi thế cạnh tranh. Mặc dù có một số khác biệt nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp du lịch và điểm đến du lịch, các nghiên cứu đều thống nhất về tầm nhìn của đồng sáng tạo như là định hướng kinh doanh và chiến lược đối với cạnh tranh thông qua áp dụng các nguyên lý và tư duy quản trị và marketing, cụ thể là xây dựng cơ chế, tiến trình và hệ thống nhằm tạo điều kiện, kích hoạt du khách tham gia vào đồng sáng tạo, để họ có những trải nghiệm đáng nhớ (Campos và cộng sự, 2015), từ đó sẽ hài lòng, quay lại điểm du lịch và truyền miệng tích cực cho điểm đến.
Các khái niệm cơ bản về đồng sáng tạo giá trị đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đó như sau: - Đồng sáng tạo giá trị (value co-creation): Theo thuyết S-D logic, có 2 loại nguồn lực: Nguồn lực vật chất bao gồm nguyên vật liệu và sản phẩm vật chất, nguồn lực phi vật chất bao gồm con người, tổ chức (văn hóa, chính sách, năng lực), thông tin và mối quan hệ. Luan van 5 Thuyết này xem khách hàng như là một nguồn lực phi vật chất, là một tập hợp gồm kĩ năng, kiến thức, chuyên môn (Arnould và cộng sự, 2005). Theo cách tiếp cận này, công ty sử dụng năng lực cốt lõi nhằm cùng sáng tạo giá trị với người tiêu dùng thông qua tương tác với họ dựa trên „‟đề xuất giá trị‟‟. Giá trị chỉ được tạo ra trong quá trình sử dụng hàng hóa/dịch vụ hay nói cách khác là giá trị tạo ra trong quá trình trải nghiệm hàng hóa dịch vụ.
Vì thế, khi ta nói quá trình đồng sáng tạo giá trị (co-creation of value process) cũng có nghĩa là quá trình đồng sáng tạo trải nghiệm (co-creation of experience process) có giá trị đối với khách hàng. Từ góc độ quản trị Marketing, việc áp dụng khái niệm đồng sáng tạo giá trị sẽ làm thay đổi tư duy quản trị theo chiều hướng sau: + Khách hàng từ người mua bị động thành tác nhân chủ động + Chuyển từ lắng nghe sang đối thoại với khách hàng + Khách hàng chuyển từ người mua thành nguồn lực của tổ chức + Nghiên cứu nhu cầu được chuyển thành thấu hiểu trải nghiệm khách hàng + Chuyển đổi từ dựa vào kinh nghiệm chuyên gia sang nắm bắt kiến thức khách hàng - Trải nghiệm du lịch đồng sáng tạo (Value co-creation tourism experience) Pine và Gilmore (1998) ứng dụng khái niệm “nền kinh tế trải nghiệm‟‟ để lý giải việc nhấn mạnh vào giá trị trải nghiệm sẽ mang lại giá trị kinh tế trong nền kinh tế đương đại, ở đó tác giả cho rằng người tiêu dùng cảm nhận về giá trị chủ yếu trên cơ sở chất lượng của trải nghiệm tiêu dùng, hơn là tính năng sản phẩm hay việc sử dụng giá trị. Trải nghiệm là cách sống nhấn mạnh đến sự thay đổi, đa dạng và sự Luan van 6 tưởng tượng (Holbrook & Hirschman, 1982), cách sống này khiến cuộc sống trở nên có ý nghĩa, thú vị và phong phú (là kết quả của sự tương tác, trải qua và sống cùng với sự vật, hiện tượng). Trải nghiệm của du khách là những cảm xúc, kí ức của du khách về một điểm đến du dịch đã viếng thăm (Kim và cộng sự, 2012).Điểm đến du lịch (tourist destination) là „‟một quốc gia, tiểu bang, vùng, thành phố, thị xã được marketing như là một nơi để du khách viếng thăm‟‟ (Bierman, 2003).Pine và Gilmore (1998) đề xuất 4 vùng trải nghiệm khác nhau chia theo mức độ có sẵn/hấp thụ và chủ động/bị động: thẩm mỹ (có sẵn/bị động), giải trí (hấp thụ/bị động), học hỏi (hấp thụ/chủ động) và thoát ly thực tế (bị lôi cuốn quá mạnh vào một đối tượng) (escapism) (có sẵn/chủ động).
Trải nghiệm du lịch đồng sáng tạo là trải nghiệm du lịch được tạo ra đồng thời bởi du khách và các nhà cung ứng du lịch (Morgan và Xu, 2009), khi đó du khách là thành viên chủ động tạo ra trải nghiệm nhờ việc làm phong phú cuộc sống, làm giàu kiến thức, tham gia hoạt động và sự hứng thú như là những động lực then chốt (McLeod, Hayers và Slater, 2009). Những nghiên cứu này được tác giả vận dụng để làm cơ sở lý thuyết cho đề tài của mình. Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo những công trình khoa học, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước khác với cùng nội dung về trải nghiệm du lịch đồng sáng tạo để bổng sung và làm rõ thêm trong các nội dung khác của đề tài. Luan van 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH ĐỒNG SÁNG TẠO TRẢI NGHIỆM 1.
ĐỒNG SÁNG TẠO GIÁ TRỊ 1. Đồng sáng tạo giá trị a. Đồng sáng tạo Đồng sáng tạo (co-creation) được phát triển như một mô hình mới trong các tài liệu về quản lý, cho phép các công ty và khách hàng tương tác với nhau để tạo ra các giá trị. Khởi phát từ những năm 2000, quan điểm này cho rằng nhà cung cấp và khách hàng không còn đối lập với nhau mà tương tác với nhau để phát triển các cơ hội kinh doanh mới.
Đồng sáng tạo là sự tham gia, hợp tác, đồng thời tạo nên các giá trị mới, bao gồm các giá trị vật chất và giá trị mang ý nghĩa tượng trưng. Prahalad và Ramaswamy (2000) cho rằng khách hàng và doanh nghiệp tương tác với nhau qua hệ thống giá cả theo mối quan hệ cung cầu. Sau đó, Prahalad và Ramaswamy (2003, 2004a, b) đưa ra quan điểm đồng sáng tạo có thể và nên cung cấp lợi ích cho các công ty và khách hàng, ví dụ như cải thiện mức tiêu thụ và trải nghiệm tiêu dùng (Gentile et al, 2007;. Payne et al, 2008) và kích thích cải tiến sản phẩm và dịch vụ (Sawhney et al, 2005;.
Bitner et al, 2008). Từ quan điểm khoa học dịch vụ, Vargo và Lusch (2004) cho rằng các công ty không nên tập trung vào sản phẩm, mà nên xem xét những dịch vụ mà họ có thể cung ứng cho khách hàng. Đồng sáng tạo là một trong những yếu tố căn bản của lý thuyết này, đó là việc cung ứng trên thị trường được Luan van 8 thực hiện và những lợi ích yêu cầu (các hoạt động và dịch vụ) được tạo ra thông qua sự hợp tác của khách hàng. Đồng sáng tạo là hoạt động sáng tạo giữa hai hay nhiều bên, là một phần của quá trình phát triển và cải tiến sản phẩm.
Đồng sáng tạo kích hoạt những ý tưởng mới và các giải pháp hiệu quả hơn để giải quyết các vấn đề tồn tại. Nó cũng có thể giúp phát hiện ra các vấn đề cần phải giải quyết. Đồng sáng tạo sẽ giúp công ty hiểu hơn về khách hàng của mình, cụ thể là nhu cầu và mong muốn của họ. Hiểu biết này là phần tiên quyết của quá trình cải tiến mà đồng sáng tạo hướng đến.
Đồng sáng tạo giá trị Trong lịch sử, các khái niệm về đồng sáng tạo giá trị được đặt ra bởi Parahald và Ramaswamy (Prahalad & Ramaswamy, 2004; Prahalad & Ramaswamy, 2000) trong các xu hướng nổi bật trong môi trường kinh doanh bắt đầu từ việc cung ứng cho đến các xu hướng tiếp theo về tùy biến khách hàng, cá nhân hóa để đồng sáng tạo. Họ lập luận rằng trước đây khách hàng tỏ ra thụ động khi muốn đạt được lợi ích trong việc tích hợp giá trị trong các hàng hóa và dịch vụ , nhưng bây giờ họ là những người tham gia chủ động, đồng sản xuất và đồng sáng tạo giá trị với vị trí tương đương với các công ty. Tiếp sau đó, Vargo và Lusch (Vargo & Lusch, 2004, 2008) đã nhấn mạnh về đồng sáng tạo giá trị như một quá trình tương tác lẫn nhau, trong đó khách hàng và các công ty tương đương với nhau khi tham gia vào việc tạo ra giá trị. Họ nói rằng giá trị là như nhau và cùng tạo ra bởi các khách hàng và các công ty trong quá trình tương tác.
Điều này có nghĩa là một mình khách hàng hay công ty thì không thể tạo ra giá trị mà phải có sự kết hợp giữa hai bên. Quan điểm này cũng tương đồng với quan điểm Gummesson (Gummesson, 1998) đã được đưa ra trước đó, rằng việc tạo ra giá trị chỉ có thể thực hiện khi hàng hóa hoặc dịch vụ được tiêu thụ.Như vậy, hàng hóa không thể bán được nếu Luan van 9 như chúng không tạo ra giá trị, cũng như dịch vụ sẽ không được sử dụng nếu nó không mang lại giá trị cho khách hàng.Tương tự như vậy, Vargo và Lusch cho rằng "Giá trị luôn luôn là duy nhất, mang tính chất hiện tượng, được xác định bởi người thụ hưởng. Nó luôn luôn là vô hình, trải nghiệm không đồng nhất, đồng tạo ra, và có khả năng mất đi "(Vargo & Lusch, 2008c) và" khách hàng luôn luôn là người đồng sáng tạo giá trị "(Vargo & Lusch, 2008b). Tiến trìn đồng sáng tạo giá trị Tiến trình tạo ra giá trị của khách hàng có thể được định nghĩa là một loạt các hoạt động được thực hiện bởi các khách hàng để đạt được một mục tiêu cụ thể.
Một khía cạnh quan trọng của khả năng tạo ra giá trị cho khách hàng là số lượng thông tin, kiến thức, kỹ năng và nguồn lực có hiệu lực khác mà họ có thể truy cập và sử dụng (Normann 2001).