Luận án tiến sĩ file word phát triển mô hình lý thuyết giải thích tác động của ác cảm mất mát và sự mong đợi về khả năng sinh lời lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà

Luận án tiến sĩ phân tích file word phát triển mô hình lý thuyết giải thích tác động của ác cảm mất mát và sự mong đợi về khả, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

170
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Bố cục luận án

1.3. TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

1.3.1. Các mô hình lý thuyết giải thích nguyên nhân của hiện tượng sụt giảm khối lượng giao dịch nhà ở

1.3.1.1. Mô hình lý thuyết về sự giới hạn khả năng đặt cọc của Stein (1995)
1.3.1.2. Mô hình về tâm lý lệch thiên vị hiện tại ảnh hưởng lên hành vi câu cá của người bán nhà của Sun & Seiler (2013)
1.3.1.3. Kết luận về các mô hình lý thuyết hiện tại về hiện tượng sụt giảm khối lượng mua bán nhà ở

1.3.2. Các mô hình lý thuyết liên quan đến phân tích hành vi tìm kiếm của người mua nhà

1.3.2.1. Mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của sự phân biệt chủng tộc lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà (Courant 1978)
1.3.2.2. Mô hình phân tích sự ảnh hưởng lượng thông tin lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà (Turnbull & Sirmans, 1993)
1.3.2.3. Mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của vốn xã hội địa phương lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà (Tu & các đồng sự, 2016)
1.3.2.4. Mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của khoảng cách lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà (Qiu & Zhao, 2018)
1.3.2.5. Kết luận về các mô hình lý thuyết hiện tại về hành vi tìm kiếm của người mua nhà

1.3.3. Tổng kết chương

3. CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH HÀNH VI TÌM KIẾM CỦA NGƯỜI MUA NHÀ VỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TÂM LÝ ÁC CẢM MẤT MÁT

3.1. Sự hạn chế của các mô hình lý thuyết hiện tại và sự cần thiết phát triển mô hình lý thuyết mới

3.2. Lập luận ban đầu của mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của tâm lý ác cảm mất mát lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà

3.3. Phát triển mô hình lý thuyết giải thích tác động của sự ác cảm mất mát lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà

3.3.1. Một số giả định của khuôn khổ phân tích

3.3.2. Nội dung mô hình lý thuyết phân tích ảnh hưởng của sự ác cảm mất mát lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà. Thảo luận về kết quả của mô hình ác cảm mất mát

4. CHƯƠNG 4: PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ MONG ĐỢI VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI LÊN HÀNH VI CỦA NGƯỜI MUA NHÀ

4.1. Sự cần thiết của mô hình lý thuyết phân tích ảnh hưởng của sự mong đợi về khả năng sinh lời lên hành vi của người mua nhà

4.2. Lập luận ban đầu của mô hình lý thuyết giải thích ảnh hưởng của sự mong đợi về khả năng sinh lời lên hành vi của người mua nhà

4.3. Một số giả định của mô hình phân tích

4.4. Phát triển mô hình lý thuyết giải thích tác động của sự mong đợi về khả năng sinh lời của người mua nhà lên hành vi tìm kiếm của họ

4.5. Thảo luận về kết quả của mô hình lý thuyết vừa được phát triển

4.6. KIỂM ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA SỰ MONG ĐỢI VỀ SUẤT SINH LỢI LÊN HÀNH VI MUA NHÀ

4.6.1. Khung lý thuyết đo lường tác động của một yếu tố lên giá nhà

4.6.2. Lược khảo một số nghiên cứu liên quan

4.6.3. Phương pháp thực nghiệm và các biến nghiên cứu

4.6.3.1. Phương pháp thực nghiệm
4.6.3.2. Đo lường các biến trong các mô hình kiểm định

4.6.4. Dữ liệu nghiên cứu và Kết quả kiểm định

4.6.4.1. Dữ liệu khảo sát
4.6.4.2. Kết quả kiểm định

4.6.5. Kết luận về kết quả kiểm định

4.6.5.1. Kết luận và những đóng góp chính của luận án
4.6.5.2. Một số đóng góp khác của luận án

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Lý Thuyết Tác Động Đến Hành Vi Mua Nhà

Mô hình lý thuyết tác động của ác cảm mất mátmong đợi sinh lời đến hành vi mua nhà là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng trong thị trường bất động sản. Việc hiểu rõ mô hình này không chỉ giúp các nhà nghiên cứu mà còn hỗ trợ các nhà đầu tư và người mua nhà trong việc đưa ra quyết định hợp lý.

1.1. Khái Niệm Về Ác Cảm Mất Mát Trong Quyết Định Mua Nhà

Ác cảm mất mát là khái niệm tâm lý mô tả sự sợ hãi của người tiêu dùng khi phải đối mặt với khả năng mất mát tài chính. Trong bối cảnh mua nhà, điều này có thể dẫn đến việc người mua trì hoãn quyết định hoặc yêu cầu mức giá cao hơn để tránh cảm giác thua lỗ.

1.2. Mong Đợi Sinh Lời Trong Đầu Tư Bất Động Sản

Mong đợi sinh lời là yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư. Người mua nhà thường dựa vào kỳ vọng về khả năng sinh lời trong tương lai để đưa ra quyết định mua. Sự thay đổi trong mong đợi này có thể ảnh hưởng lớn đến hành vi tìm kiếm và quyết định mua nhà.

II. Vấn Đề Tâm Lý Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Mua Nhà

Tâm lý người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi mua nhà. Các yếu tố như ác cảm mất mátmong đợi sinh lời có thể tạo ra những thách thức lớn cho người mua. Việc hiểu rõ những vấn đề này giúp các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư có cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường.

2.1. Thách Thức Từ Ác Cảm Mất Mát

Ác cảm mất mát có thể dẫn đến việc người mua không dám đưa ra quyết định mua nhà, đặc biệt trong giai đoạn thị trường đi xuống. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, khiến cho thị trường bất động sản khó phục hồi.

2.2. Ảnh Hưởng Của Mong Đợi Sinh Lời

Khi người mua có mong đợi thấp về khả năng sinh lời, họ có thể trì hoãn quyết định mua nhà. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến toàn bộ thị trường bất động sản.

III. Phương Pháp Phát Triển Mô Hình Lý Thuyết Mới

Để giải thích tác động của ác cảm mất mátmong đợi sinh lời đến hành vi mua nhà, một mô hình lý thuyết mới cần được phát triển. Mô hình này sẽ giúp làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và hành vi của người tiêu dùng trong thị trường bất động sản.

3.1. Các Giả Định Cơ Bản Của Mô Hình

Mô hình lý thuyết mới sẽ dựa trên các giả định về tâm lý người tiêu dùng, bao gồm sự ảnh hưởng của ác cảm mất mátmong đợi sinh lời. Những giả định này sẽ giúp xây dựng một khung lý thuyết vững chắc.

3.2. Nội Dung Mô Hình Lý Thuyết

Nội dung mô hình sẽ bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm của người mua nhà, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện quyết định mua nhà trong bối cảnh thị trường bất động sản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mô Hình Lý Thuyết

Mô hình lý thuyết phát triển sẽ có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc hỗ trợ người tiêu dùng và nhà đầu tư trong quyết định mua nhà. Việc áp dụng mô hình này có thể giúp cải thiện tính thanh khoản của thị trường bất động sản.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Nghiệm

Kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm sẽ cung cấp bằng chứng cho thấy tác động của ác cảm mất mátmong đợi sinh lời đến hành vi mua nhà. Những kết quả này sẽ giúp củng cố mô hình lý thuyết đã phát triển.

4.2. Ứng Dụng Trong Thực Tế

Mô hình lý thuyết có thể được áp dụng trong các chiến lược marketing và tư vấn đầu tư bất động sản, giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định hợp lý hơn trong bối cảnh thị trường biến động.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu về tác động của ác cảm mất mátmong đợi sinh lời đến hành vi mua nhà sẽ tiếp tục là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu kinh tế. Việc phát triển mô hình lý thuyết mới sẽ mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong tương lai.

5.1. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc mở rộng mô hình lý thuyết để bao gồm các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi mua nhà, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về thị trường bất động sản.

5.2. Tác Động Đến Chính Sách

Kết quả nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến các chính sách phát triển thị trường bất động sản, giúp cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ người tiêu dùng trong việc đưa ra quyết định mua nhà.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ file word phát triển mô hình lý thuyết giải thích tác động của ác cảm mất mát và sự mong đợi về khả năng sinh lời lên hành vi tìm kiếm của người mua nhà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Thông thường, theo quy luật cầu, khi thị trường đi xuống, giá hàng hóa sẽ giảm xuống nhằm tác động kéo khối lượng cầu hàng hóa gia tăng trở lại, giúp thị trường khôi phục. Tuy nhiên, trên thị trường nhà ở, một hiện tượng gây khó hiểu các nhà nghiên cứu, đó là việc khối lượng mua bán của nhà ở trên thị trường vẫn tiếp tục giảm khi mà giá nhà đã đươc giảm xuống trong giai đoạn thị trường đi xuống (Stein, 1995; Sun & Seiler, 2013), và do đó đã làm giảm mạnh tính thanh khoản của thị trường nhà ở trong giai đoạn này, và hậu quả là thị trường nhà ở khó phục hồi hơn (Genesove & Mayer, 2001). Hiện tượng khó hiểu này đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách giải thích khác nhau. Cụ thể, Stein (1995) lập luận rằng, do phần lớn người sở hữu nhà cũng đồng thời sở hữu những khoảng nợ tài chính tương đối lớn, nên khi giá nhà sụt giảm trong giai đoạn thị trường nhà ở đi xuống, sẽ làm cho số tiền còn lại sau khi trả nợ tài chính của người bán nhà không đủ để trang trải cho số tiền đặt cọc để mua nhà ở mới, và do đó người dân sẽ trì hoãn việc thay đổi chổ ở (bán nhà cũ và mua nhà mới).

Đây là nguyên nhân làm giảm khối lượng giao dịch nhà ở trên thị trường khi giá nhà giảm trong giai đoạn thị trường đi xuống. Lập luận này của Stein (1995) được trình bày trong khuôn khổ lý thuyết về sự giới hạn tiền đặt cọc của mình1. Một lập luận khác, được chấp nhận rộng rãi hơn, được Genesove & Mayer (2001) đưa ra để giải thích cho hiện tượng khó hiểu này trên thị trường nhà ở, đó là do tác động của ác cảm mất mát 2 của người bán nhà. Cụ thể, khi quan sát diễn biến của thị trường nhà ở Boston trong giai đoạn từ 1982 – 1998, Genesove & Mayer (2001) đã nhận thấy rằng, trong giai đoạn thị trường nhà ở đi xuống thì người bán nhà có xu hướng rao giá bán cao hơn 35% so với mức giá mà họ dự kiến bán của ngôi nhà, 1 Khuôn khổ lý thuyết giới hạn về tiền đặt cọc của Stein (1995) sẽ được tác giả luận án trình bày chi tiết trong phần tổng quan các khuôn khổ lý thuyết.

2 Sự ác cảm mất mát (loss aversion) của người tiêu dùng được Kahneman và Tversky (1979), Tversky và Kahneman (1991) đưa ra trong lý thuyết Triển vọng (Prospect theory). 2 trong khi chỉ có chưa tới 30% ngôi nhà rao bán được mua bán thành công trong vòng 180 ngày rao bán trong giai đoạn đi xuống này. Ngược lại, trong giai đoạn thị trường nhà ở tăng trưởng (năm 1997) thì mức chênh lệch giữa mức giá mà người bán rao bán và giá bán dự kiến chỉ khoảng 12% và có hơn 60% ngôi nhà được rao bán thành công trong vòng 180 ngày. Từ thực trạng đó, Genesove & Mayer (2001) lập luận rằng khi mức giá nhà trên thị trường giảm xuống thì người bán nhà sẽ có thể phải đối mặt với một khoản thua lỗ nếu bán nhà trong giai đoạn này, và với sự tác động của ác cảm mất mát nên người bán nhà sẽ có xu hướng muốn trì hoãn khoản thua lỗ này bằng cách gia tăng mức giá bán yêu cầu của mình3 nhằm từ chối các đề nghị mua từ người mua nhà.

Từ đó, Genesove & Mayer (2001) kết luận rằng do ác cảm mât mát tác động làm gia tăng mức giá bán yêu cầu của người bán, nên đã tạo ra sự cách biệt so với mức giá sẵn lòng mua của người mua, và kết quả là làm quy mô giao dịch của thị trường nhà ở. Hành vi gia tăng mức giá bán yêu cầu này của người bán nhà được Engelhardt (2003); Einio & các đồng sự (2008) gọi là sự neo giá của người bán nhà vào mức giá mua trước đây. Tuy nhiên, gần đây, một số nhà nghiên cứu (Morewedge và đồng sự, 2009; Bokhari & Geltner9, 2011; Sun & Seiler, 2013; Buisson, 2016; Bao và Meng, 2017) đều chỉ ra rằng ác cảm mất mát không phải là nguyên nhân hoặc không phải là nguyên nhân chính tạo ra sự khác biệt giữa mức giá ngưỡng bán của người bán nhà so với mức giá ngưỡng mua của người mua nhà, nên đây không phải là nguyên nhân chính làm giảm khối lượng mua bán của nhà ở trong giai đoạn thị trường nhà ở đi xuống. Cụ thể, Buisson (2016) lập luận rằng, với người bán nhà có sự giới hạn về thời gian rao bán (ví dụ như đi nước ngoài, hoặc trả nợ ngân hàng), thì việc nâng cao mức giá ngưỡng bán nhằm trì hoãn việc bán lỗ do ảnh hưởng của sự ác cảm mất mát như lập luận của Genesove & Mayer (2001) sẽ là hành vi đánh bạc khi chờ đợi một đề nghị không chắc chắn ở tương lai, và điều này có thể sẽ dẫn đến một kết quả bi đát hơn nhiều cho người bán khi mà họ sẽ phải bán ở mức giá rất thấp khi mà thời hạn rao 3 Mức giá ngưỡng bán (seller’s reservation price) được định nghĩa là mức giá thấp nhất mà người bán nhà chấp nhận bán.

Mức giá ngưỡng mua (buyer’s reservation price) là mức giá cao nhất mà người mua chấp nhận mua. 3 bán của họ kết thúc, và tất nhiên, việc đánh bạc này là không phú hợp với người có tâm lý ác cảm mất mát (sợ rủi ro). Từ đó, Buisson (2016) lập luận rằng, với một người bán nhà duy lý, ác cảm mất mát và giới hạn về thời gian rao bán sẽ tác động làm người bán hạ thấp mức giá ngưỡng bán của mình để rút ngắn quá trình rao bán nhà với một mức giá chấp nhận được. Còn trong trường hợp người bán nhà không chịu sự giới hạn về thời gian rao bán, thì Buisson (2016) lập luận rằng: (1) thay vì nâng mức giá ngưỡng bán nhằm trì hoãn việc bán lỗ (như theo lập luận của Genesove & Mayer), người bán nhà lúc này sẽ là hợp lý hơn khi giữ nguyên mức giá ngưỡng bán như cũ, vì việc này vẫn giúp cho người bán nhà tránh được việc bán lỗ; (2) nếu đã không muốn bán nhà với giá thấp trong giai đoạn thị trường đi xuống thì một người bán nhà không chịu giới hạn về thời gian rao bán có thể đơn giản là rời bỏ thị trường tạm thời trong giai đoạn nảy, hành động này chẳng những đạt được hiệu quả trì hoãn hoạt động bán lỗ mà còn tiết kiệm được chi phí rao bán.

Từ đó, Buisson (2016) kết luận rằng sự ác cảm mất mát của người bán nhà không phải là nguyên nhân của vấn đề sụt giảm khối lượng mua bán nhà ở và thời gian rao bán bị kéo dài khi thị trường có sự sụt giảm giá nhà, và ông đề nghị tìm một giải thích khác cho vấn đề này. Về mặt thực nghiệm, Bokhari & Geltner (2011, pp. 668) phát hiện rằng ác cảm mất mát chỉ được tìm thấy có tác động mạnh lên hành vi của người bán nhà trong giai đoạn thị trường nhà ở Mỹ đang tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn đầu những năm 2000s, còn khi thị trường nhà ở Mỹ rơi vào suy thoái trong giai đoạn 2008- 2009 thì lại không tìm thấy tác động của ác cảm mất mát lên hành vi của người mua nhà. Từ đó Bokhari & Geltner (2011) nhấn mạnh rằng tác động của ác cảm mất mát là nhỏ và không phải là nguyên nhân chính dẫn tới sự khác biệt giữa mức giá ngưỡng mua và mức giá ngưỡng bán, cái mà được xem là nguyên nhân của sự kém thanh khoản của thị trường bất động sản trong những năm 2008 – 2009.

Một nghiên cứu thực nghiệm khác, Bao và Meng (2017, pp. 16-17) khi nghiên cứu về thị trường nhà ở Trung Quốc cũng kết luận rằng sự ác cảm mất mát chỉ có tác động lên hành vi của người bán nhà khi giá trị của khoản lỗ là nhỏ, còn khi khoản thua lỗ mà người 4 bán nhà phải đối mặt là tương đối lớn thì vai trò của sự ác cảm mất mát ảnh hưởng lên hành vi người bán nhà là không được tìm thấy. Một giải thích khác cho hiện tượng sụt giảm khối lượng mua bán nhà ở khi giá nhà ở giảm xuống trong giai đoại suy thoái của thị trường nhà ở là của Sun & Seiler (2013). Sun & Seiler (2013) lập luận rằng nguyên nhân của hiện tượng khó hiểu này trên thị trường nhà ở là do tâm lý lệch thiên vị giá trị hiện tại4 (present-biased preferences) của người bán nhà.

Cụ thể, dựa vào khái niệm về tính bất nhất của giá trị theo thời gian, Sun & Seiler (2013) lập luận rằng chính do tâm lý lệch thiên vị giá trị hiện tại làm cho người bán nhà cảm thấy rằng giá trị của khoản lỗ mà họ phải gánh chịu do bán nhà giá thấp trong giai đoạn thị trường đi xuống sẽ trở nên lớn hơn nếu nó phát sinh ở tương lai gần hơn, ngược lại người bán cảm thấy giá trị của khoản lỗ sẽ trở nên nhỏ hơn nếu nó phát sinh ở tương lai xa hơn. Do đó, theo Sun & Seiler (2013), thì tâm lý lệch thiên vị giá trị hiện tại sẽ tác động làm người bán nhà có xu hướng đặt mức giá ngưỡng bán cao hơn so với mức giá thị trường của ngôi nhà nhằm mục đích kéo dài thời điểm phát sinh khoản thua lỗ do bán nhà với giá thấp trong giai đoạn thị trường đi xuống, và chính việc này là nguyên nhân làm giảm khối lượng mua bán và kéo dài thời gian rao bán của nhà ở khi thị trường đi xuống (Sun & Seiler, 2013). Tóm lại, từ các lập luận của các tác giả Stein (1995), Genesove & May (2001), Sun & Seiler (2013) đưa ra để giải thích hiện tượng suy giảm khối lượng mua bán trên thị trường nhà ở khi giá nhà giảm trong giai đoạn thị trường nhà ở suy thoái, tác giả luận án nhận thấy rằng các lập luận này đều tập trung giải thích nguyên nhân của hiện tượng khó hiểu này là do hành vi nâng mức giá ngưỡng bán của người bán, tứ là các tác giả này xem xét vấn đề từ phía cung của thị trường nhà ở. Cụ thể, là do tác động của tâm lý sợ không đủ tiền đặt cọc mua nhà mới (Stein, 1995), hay là do sự ác cảm mất mát khi bán nhà với giá rẻ (Genesove & May, 2001), hoặc do tâm lý lệch thiên vị hiện tại của người bán nhà (Sun & Seiler, 2013), làm cho người bán 4 Tâm lý lệch thiên vị giá trị hiện tại là cụm từ do tác giả luận án dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “present-biased preferences” trong nghiên cứu của Sun & Seiler (2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ