phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về mô hình gia đình Chƣơng II: Những quy định pháp luật và thực trạng mô hìnhgia đình của Việt Nam theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Chƣơng III: Các khuyến nghị xây dựng, hoàn thiện mô hình gia đình Việt Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH 1. Khái niệm và bản chất của gia đình Theo Việt Nam Dân luật lƣợc khảo, so sánh các cách tổ chức gia đình trên thế giới và trong lịch sử, nhân loại có hai quan niệm chính yếu về gia đình đó là: “Quan niệm cổ ở Đông phƣơng cũng nhƣ quan niệm cổ ở La Mã là quan niệm đại gia đình, gồm tất cả các bà con cùng huyết thống”, trái lại theo quan niệm mới, ở Tây phƣơng cũng nhƣ ở Đông phƣơng, gia đình chỉ gồm có hai vợ chồng và các con chƣa trƣởng thành sống cùng với cha mẹ”[15]. Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những ngƣời cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thƣờng gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”[12]. Với cách hiểu này, “Gia đình” đƣợc cho là một hạt nhân nhỏ nhất để xây dựng và hình thành nên xã hội.
Bên trong nội hàm của “Gia đình” thƣờng chỉ bao gồm những chủ thể đƣợc gắn kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan hệ trực hệ - có sự liên kết với nhau về huyết thống. Do đó, có thể hiểu rằng “Gia đình” theo Từ điển tiếng Việt là định nghĩa về gia đình theo nghĩa hẹp nhất, không có sự bao hàm các trƣờng hợp thực tế nhƣ đối với những gia đình có quan hệ nuôi con nuôi. Dƣới góc độ xã hội học, gia đình đƣợc coi là tế bào của xã hội[2]. Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa.
Mối quan hệ gia đình đƣợc thể hiện ở các khía cạnh nhƣ: có quan hệ vợ chồng, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội. Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dƣới góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định : Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[6]. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những ngƣời cùng có tên trong một sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những ngƣời cùng chung sống với nhau dƣới một mái nhà…Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình đƣợc chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ…[13,15].
Theo Việt Nam dân luật lƣợc khảo:Về phƣơng diện xã hội, gia đình là nền tảng của quốc gia. Theo kinh nghiệm, những ngƣời công dân biết làm tron bổn phận đối với Tổ quốc bao giờ cũng là những con ngƣời đã hấp thụ một nền giáo dục tốt ở trong gia đình. Trái lại, phần đông những phần tử xấu xa phạm tội lỗi trong xã hội là những ngƣời không có gia đình hoặc bị gia đình ruồng bỏ [15]. Về phƣơng diện chính trị, sự tổ chức gia đình là một vấn đề rất hệ trọng.
Sự suy vọng hƣng thịnh của một quốc gia vốn có liên lạc chặt chẽ với vấn đề sinh sản tức là vấn đề gia đình. Ở nƣớc Pháp chẳng hạn, về đầu thế kỷ thứ 20 do sự sinh sản sút kém, dân số đã đứng nguyên trong khi dân số của Đức đã tăng gia một cách rất đáng lo ngại cho Pháp. Vì vậy, chính phủ Pháp đã phải theo đuổi một chính sách bảo vệ gia đình và từ năm 1939, khuyến khích sự lập gia đình và sự sinh sản bằng cách trợ cấp các gia đình đông con. Số tiền trợ cấp cho mỗi gia đình càng lớn nếu số con càng đông.
Nhờ thế, sự sinh sản sau khi nƣớc pháp đƣợc giải phóng đã tăng lên đôi chút.[2] 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về phƣơng diện kinh tế, gia đình vốn là một đoàn thể kinh tế rất chặt chẽ. Hơn nữa, gia đình là một động lực khuyến khích rất mạnh mẽ sự tồn tích ở trong nƣớc. Trong đời sống hàng ngày, có rất nhiều hoạt động kinh tế thích ứng cho khuôn khổ gia đình nhƣ: các sự kinh doanh về nông nghiệp, các tiểu công nghệ, các tiểu kỹ nghệ, tiểu thƣơng mại.”[1,11] Nhƣ vậy bản chất của gia đình là dựa trên ba mối quan hệ là hôn nhân, huyết thống và pháp lý. - Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa ngƣời đàn ông với ngƣời đàn bà, dựa trên nhu cầu tính giao (sự ham muốn khác giới) đƣợc pháp luật công nhận hoặc không đƣợc (không cần) pháp luật công nhận, nhƣng có sự thừa nhận của cộng đồng theo luật tục (chủ yếu ở những cộng đồng chƣa có pháp luật về giá thú) hoặc theo các qui định của tôn giáo, tập quán cộng đồng… Quan hệ hôn nhân là quan hệ cơ bản của gia đình tạo ra những quan hệ khác và làm nền tảng cho sự bền vững của gia đình.
- Quan hệ huyết thống là quan hệ sinh học – xã hội giữa cha mẹ và con cái nảy sinh từ quan hệ hôn nhân. Quan hệ huyết thống đƣợc biểu hiện ở sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái và giữa các anh, chị, em cùng cha, mẹ sinh ra. Do sự tiếp nối giữa các thế hệ trong gia đình, ngoài các quan hệ trên còn có các quan hệ khác: Ông bà và con, cháu, chắt… - Quan hệ pháp lý và tình cảm: Mối qua hệ giữa các thành viên trong gia đình về quyền lợi, nghĩa vụ, về của cải, tài sản và sự “ cấp dƣỡng” những nghĩa vụ tình cảm, những cấm đoán về tính giao giữa những ngƣời có cùng huyết thống gần, hay giữa cha mẹ nuôi và con nuôi…mà pháp luật quy định. Khái niệm và vai trò của mô hình gia đình đối với đời sống và pháp luật Kể từ khi chƣa có sự điều chỉnh của pháp luât, gia đình đã là một định chế đƣợc hình thành một cách tự nhiên thuần túy.
Đi ngƣợc lại dòng lịch sử 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo các tài liệu thì ta có thể thấy gia đình đã đƣợc xây dựng trên hai mô hình chính là Đại gia đình và Tiểu gia đình, mà cụ thể nhƣ sau: Đại gia đình là mô hình gia đình đƣợc tổ chức theo tộc họ và đƣợc đặt dƣới chế độ phụ quyền. Song quy mô tổ chức của gia đình - tộc họ cũng nhƣ cách vận hành của chế độ phụ quyền không giống nhau tuy theo gia đình đƣợc hình dung ở góc độ kinh tế hay ở góc nghi lễ, tín ngƣỡng. Ở góc độ kinh tế, gia đình - tộc họ gồm tất cả những ngƣời thuộc các thế hệ khác nhau sống trong cùng một nhà (gọi là gia tộc). Gia đình có ngƣời đứng đầu gọi là gia trƣởng (chủ gia đình).
Gia đình, chứ không phải các nhân, là chủ thể của quyền sở hữu tài sản và việc thực hiện quyền sở hữu đó là của gia trƣởng. Cũng chính gia trƣởng là ngƣời điều hành các công việc thƣợc sinh hoạt nội bộ của gia đình, kể cả việc dựng vợ, gả chồng cho con, cháu[1]. Ở góc độ nghi lễ, tín ngƣỡng, gia đình - tộc họ (còn gọi là dòng họ hay tông tộc) gồm tất cả những ngƣời có chung một tổ tiên. Ngƣời đứng đầu gia đình gọi là trƣởng tộc.
Các thành viên gia đình có mối quan hệ gắn bó do trƣớc hết họ có sự quan tâm chung đối với việc thờ cúng tổ tiên cũng nhƣ đối với việc gìn giữ và phát huy truyền thống[13]. Những mối quan tâm ấy chỉ gắn với lợi ích tinh thần. Bởi vậy, chế độ phụ quyền xoay quanh nhân vật trung tâm là trƣờng tộc, có nhiều nét giống với chế độ trƣởng giáo của các giáo phái. Mô hình gia đình - Tộc họ theo chế độ phụ quyền đƣợc quyền duy trì trong luật Việt Nam cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa.
Xét về khía cạnh tiểu gia đình có thể coi là một mô hình khá nổi bật hiện tại, tƣơng ứng với chế độ hộ gia đình theo mô hình gia đình đƣợc ngƣời làm luật XHCN lựa chọn nhƣ một biện pháp đấu tranh chống những tàn dƣ của chế độ hôn nhân và gia đình thực dân phong kiến và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong đời sống gia đình Việt Nam. Tổ chức gia đình gồm cha mẹ và con là đối tƣợng của những quy tắc tạo thành Luật hôn nhân và gia đình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Gia đình hộ tiếp thục là đề tài chính của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và đƣợc chi phố trong Luật này bởi một hệ thống quy tắc khá chi tiết[10,20]. Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội.
Vì thế vai trò của mô hình gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ đất nƣớc. Gia đình có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội. Pháp luật về gia đình phải xây dựng hoặc thừa nhận một mô hình gia đình nhất định trong việc điều tiết gia đình (với tính cách là một hiện tƣợng khách quan đối với loài ngƣời nhƣng chủ quan đối với mỗi cá nhân trong việc tạo lập gia đình). Những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình đƣợc tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: Gia đình là môi trƣờng quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách, góp phần chăm lo xây dựng con ngƣời Việt Nam giàu lòng yêu nƣớc, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính[23]. Con ngƣời Việt Nam chỉ có thể đƣợc trang bị những phẩm chất tốt đẹp nếu có một môi trƣờng xã hội tốt.