CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TRUYỀN THÔNG 1. Mô hình truyền thông và mô hình hoạt động truyền thông 1. Truyền thông và mô hình truyền thông Truyền thông là một nhu cầu thiết yếu và cũng là hoạt động phổ biến của xã hội loài người từ thưở hồng hoang. Con người luôn có nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin và chính sự trao đổi thông tin qua lại này là hoạt động quan trọng để thúc đẩy xã hội loài người liên tục phát triển.
Truyền thông - theo tiếng Latin (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, liên lạc thông tin ý tưởng từ một người hoặc một nhóm người sang một nhóm người khác bằng ngôn ngữ cử chỉ hay bằng hành động, lời nói. Có thể hiểu đây là quá trình chia sẻ thông tin, theo kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận.
Sự liên kết đó được thể hiện qua giọng nói, chữ viết, hoặc là gửi thông điệp cho nhau qua điệu bộ, cử chỉ của tay và khuôn mặt, ta gọi đấy là truyền thông bằng lời và truyền thông không bằng lời. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được.
Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Quá trình truyền thông diễn ra liên tục. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những 5 tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý). Bởi truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ.
Với bề dày lịch sử ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, do đó có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ nhìn nhận vấn đề đối với truyền thông. Dưới đây là một số định nghĩa tương đối phổ biến: - Theo John R. Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời.Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống.P Yakovleva, truyền thông như là một môn khoa học theo dõi nhận thức về vị trí và vai trò truyền thông trong xã hội, sự phát triển, cấu trúc của truyền thông, quá trình thông tin liên lạc và phương tiện.
- Theo MS Andrianova, truyền thông theo dõi nhận thức điểm quan về ngữ nghĩa dưới tác động của xã hội. Ngoài ra, ta có thể dẫn chứng ra hàng trăm định nghĩa, khái niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi định nghĩa và khái niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng, nhưng chúng đều có khía cạnh chung và những nét tương đồng cơ bản. Đó là quá trình trao đổi thông tin về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội.
Từ quan niệm trên đây trong cuốn “Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của hai tác giả Nguyễn Văn Dũng và Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra định nghĩa cơ bản và khá đầy đủ về truyền thông: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường 6 hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội. Các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình truyền thông và các mô hình truyền thông 1. Các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình truyền thông Truyền thông là một quá trình diễn ra theo thời gian, với sự tham dự của các yếu tố sau: - Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông.
- Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận - Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp cận - Người nhận: là cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông. - Phản hồi/Hiệu quả: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận về nguồn phát - Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông, dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch. Các mô hình truyền thông Truyền thông là một hiện tượng đa nghĩa. Do đó, bên cạnh hàng ngàn định nghĩa về truyền thông, để hiểu sâu hơn về bản chất, cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông, người ta nghiên cứu và sử dụng các mô hình truyền thông.
Mô hình truyền thông (Communication model) là những bản vẽ, biểu đồ, sơ đồ. được sử dụng để người xem có cái nhận thức sâu sắc hơn về khái niệm 7 đa nghĩa này. Trong chương này, chúng tôi xin giới thiệu một số mô hình truyền thông cơ bản trong lý thuyết truyền thông Mô hình truyền thông H. Lasswell: Đây là mô hình truyền thông một chiều được Lasswell đưa ra vào năm 1948.
Mô hình rất đơn giản mà lại hữu ích khi cần chuyển thông tin khẩn cấp. Tuy nhiên khi cần tiếp nhận lại thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận thông tin thì lại chưa được đề cập tới. Mô hình một chiều của H. Lasswell gồm có 4 yếu tố: Mô hình 1.1: Mô hình truyền thông một chiều của H.
Lasswell Mô hình của Claude Shannon: Đây là mô hình truyền thông hai chiều và rất khái quát, tổng hợp, nó đã khắc phục nhược điểm của mô hình một chiều, nhấn mạnh vai trò tiếp nhận của thông tin phản hồi. Thông tin có thể được mã hóa trước khi đưa lên phương tiện truyền. Người nhận sẽ giải mã những thông tin đã được mã hóa. Tuy nhiên có sự sai lệch sau 2 lần mã hóa và giải mã.
Việc vận dụng mô hình này vào truyền thông marketing có những đặc thù riêng. Người gửi phải lựa chọn nguồn thông tin để mã hóa, biến nó thành thông điệp để thông qua phương tiện truyền để truyền đến người nhận. Mô hình chú ý đến hiệu quả truyền thông, điều này là mong đợi của tất cả các nhà truyền thông nào khi chuẩn bị hoạt động của mình.2: Mô hình truyền thông hai chiều của C. Shannon Các yếu tố trong mô hình truyền thông hai chiều của C.
Shannon bao gồm: S (Source, Sender): Nguồn phát, chủ thể truyền thông. M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông C (Channel) : Kênh truyền thông R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng) E (Effect): Hiệu quả truyền thông N (Noise) : Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp) F (Feedback) : Phản hồi Mô hình tiếp thị xã hội Quá trình truyền thông nhằm biến đổi hành vi tương tự như quá trình tiếp thị sản phẩm. Sự khác biệt duy nhất giữa chúng là thời gian. Mô hình tiếp thị xã hội được Phillip Kotler xây dựng trên cơ sở những hoạt động tiếp thị thương mại.
Mô hình này nhấn mạnh rằng người tiêu dùng hoặc đối tượng đích là tiêu 9 điểm chính trong kế hoạch và tổ chức của các chương trình/ chiến dịch/ hoạt động truyền thông. Chương trình / chiến dịch truyền thông sẽ tập trung vào những khía cạnh sau đây: - Giá cả: là cái mà khách hàng phải đưa ra để đổi lấy những lợi ích sau này. - Sản phẩm: là cái mà chương trình nhắm tới thay đổi ở đối tượng. - Quảng bá: là phương thức trao đổi - Địa điểm: các kênh chương trình sử dụng để tiếp cận đối tượng như các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông cộng đồng hay truyền thông theo nhóm.
Mô hình công ty truyền thông: khái niệm, phân loại Truyền thông là một lĩnh vực rộng lớn, với nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cùng tham gia vào nó. Nhưng nhìn chung trên thế giới, các công ty truyền thông có thể phân chia làm hai loại chính: sở hữu truyền thông (media communications owner) và truyền thông dịch vụ (media communications service) Truyền thông sở hữu (media communications owner): Những công ty truyền thông sở hữu sở hữu toàn bộ các kênh truyền thông hiện có trong một quốc gia, thậm chí trên toàn cầu. Đó là những công ty hoặc tập đoàn sở hữu quốc gia và toàn cầu, chẳng hạn như những tập đoàn truyền thông khổng lồ: News Corporations (Mỹ), Gannett (Mỹ), Tập đoàn báo chí Singapore (SPH), Tập đoàn báo chí Quảng Châu (Trung Quốc), Tập đoàn báo chí Văn Hối Tân Dân báo (Trung Quốc) với hàng trăm nhà xuất bản, tờ báo, tạp chí, kênh truyền hình (cả số và vệ tinh) ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, truyền thông sở hữu thuộc sở hữu nhà nước.
Vì đặc điểm này, nghiên cứu của chúng tôi tập trung khảo sát và xây dựng mô hình công ty truyền thông dịch vụ (media 10 communications service), một lĩnh vực đang rất phát triển trong ngành truyền thông ở nước ta hiện nay. Truyền thông dịch vụ (media communications service): Về lý thuyết, đây là các công ty không trực tiếp sản xuất nội dung mang tính báo chí cho các phương tiện thông tin đại chúng, và thường cũng không sở hữu tờ báo hoặc kênh phát thanh, truyền hình nào. Họ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng là các cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc báo chí nhằm thúc đẩy hiệu quả hơn quá trình truyền thông giữa các đối tượng này với độc giả và khách hàng, hoặc công chúng mục tiêu của họ. Khái niệm mô hình hoạt động của công ty truyền thông Mô hình hoạt động của công ty truyền thông (Communication company’s model) là sự khái quát hóa dưới dạng mô hình (hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ.) những nét đặc thù trong tổ chức, hoạt động của từng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp truyền thông.
Mô hình hoạt động của công ty truyền thông giúp chúng ta nhận diện được công ty truyền thông ở những đặc thù về những lĩnh vực quan trọng nhất của doanh nghiệp truyền thông bao gồm: các lĩnh vực kinh doanh chính, địa bàn, quy mô, phương thức tổ chức hoạt động, đặc điểm, trình độ nhân lực quản lý và thực hiện.