Luận văn: Mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến cho Chính phủ điện tử Việt Nam - Đỗ Mai Thanh

Luận văn thạc sĩ: Đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến, phù hợp thực tế chính phủ điện tử Việt Nam. Giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG I: DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ

1.1. Khái niệm Chính phủ điện tử

1.1.1. Sự hình thành và khái niệm Chính phủ điện tử

1.2. Mô hình tƣơng tác của chính phủ điện tử

1.3. Dịch vụ hành chính công điện tử

1.4. Hệ thống một cửa

2. CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM

2.1. Đánh giá tổng quát hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công

2.2. Thực trạng quản lý và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công

2.2.1. Những hạn chế về cơ cấu tổ chức và cách thức tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công

2.2.2. Những hạn chế về kỹ thuật, công nghệ

2.3. Nhận xét chung về hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến

3. CHƢƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI

3.1. Tình hình phát triển dịch vụ hành chính công điện tử của một số nƣớc

3.2. Khung giải pháp Chính phủ điện tử

3.2.1. Mô hình Khái niệm

3.2.2. Kiến trúc CGF

3.3. 0: Thúc đẩy ra đời chính phủ điện tử 2. So sánh web 2

3.4. Các công nghệ thúc đẩy web 2

3.5. Ứng dụng RIA (Rich Internet Application)

4. CHƢƠNG 4: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN

4.1. Cơ sở lý thuyết xây dự mô hình

4.1.1. Mô đun hóa và các loại liên kết

4.1.2. Các chiến lƣợc trong quản lý quy trình nghiệp vụ

4.1.3. Các kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ

4.1.4. Mô hình hƣớng dịch vụ SOA

4.1.5. An toàn, bảo mật Web Service

4.2. Đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công

4.2.1. Cấp độ dịch vụ hành chính công:

4.2.2. Lựa chọn chiến lƣợc quản lý quy trình phối hợp giữa các mô đun

4.2.3. Liên kết, tích hợp các hệ thống thông tin trong dịch vụ liên thông và mô đun hóa phần mềm nghiệp vụ theo kiến trúc SOA

4.2.4. Các đề xuất về xác thực, bảo mật trong các dịch vụ liên thông sử dụng Web Service

4.2.5. Các khuyến nghị nâng cao hiệu quả khi xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến

4.2.5.1. Về nguyên lý chung khi lựa chọn dịch vụ hành chính công trực tuyến
4.2.5.2. Về quy trình lựa chọn dịch vụ hành chính công trực tuyến
4.2.5.3. Về mức cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
4.2.5.4. Về phí, lệ phí và hình thức trả kết quả
4.2.5.5. Khuyến nghị về yêu cầu nghiệp vụ
4.2.5.6. Khuyến nghị về thông tin
4.2.5.7. Khuyến nghị về ứng dụng
4.2.5.8. Giao diện và phù hợp tiêu chuẩn
4.2.5.9. Các mẫu đơn, tờ khai phải luôn có sẵn để tài về
4.2.5.10. Thời gian đáp ứng
4.2.5.11. Thông tin sẵn sàng
4.2.5.12. Tra cứu trạng thái và nhận kết quả
4.2.5.13. Khuyến nghị về hạ tầng kết nối

5. CHƢƠNG 5: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT TRONG TRIỂN KHAI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ XIN THÔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI

5.1. Giới thiệu về dịch vụ hành chính công “Xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nƣớc ngoài”

5.2. Yêu cầu bài toán

5.3. Các quy trình nghiệp vụ chính

5.4. Áp dụng mô hình dịch vụ hành chính công điện tử đề xuất để thiết kế hệ thống dịch vụ hành chính công điện tử liên thông “Đăng ký thôi quốc tịch VN”

5.4.1. Lựa chọn chiến lƣợc quản lý phối hợp các tổ chức trong quy trình

5.4.2. Quy trình nghiệp vụ để xây dựng dịch vụ hành chính công liên thông

5.4.3. Các phân hệ phần mềm:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Tổng Quan Về Mô Hình Dịch Vụ Hành Chính Công

Dịch vụ hành chính công (DVC) là một chức năng quan trọng của nhà nước. Trong bối cảnh công nghệ thông tin (CNTT) phát triển mạnh mẽ, việc cung cấp DVC trực tuyến hiệu quả là ưu tiên hàng đầu. Để xây dựng DVC trực tuyến phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử của Việt Nam, cần nghiên cứu và đánh giá toàn diện kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn triển khai liên quan. Luận văn này làm rõ thực trạng xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến gắn với nỗ lực phát triển Chính phủ điện tử của một số nước trên thế giới. Thông tin về thực trạng hạ tầng CNTT, cải cách hành chính gắn với ứng dụng CNTT tại một số cơ quan nhà nước được thu thập, cho phép phân loại, đánh giá nhu cầu phát triển DVC trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp. Căn cứ trên thông tin bài học kinh nghiệm và các đánh giá thực trạng, các yêu cầu chung về hệ thống thông tin để đảm bảo tính khả thi, phù hợp và giảm thiểu chi phí khi xây dựng DVC trực tuyến được xác định. Kết quả cuối cùng của đề tài là đề xuất mô hình DVC trực tuyến phù hợp với thực tế xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam. Theo Đỗ Mai Thanh, luận văn tập trung vào việc đề xuất mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam (Đỗ Mai Thanh, 2012).

1.1. Tầm quan trọng của Dịch Vụ Công Trực Tuyến

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nhu cầu tiếp cận thông tin và dịch vụ một cách nhanh chóng, tiện lợi ngày càng tăng cao. Dịch vụ công trực tuyến đáp ứng nhu cầu này bằng cách cung cấp các thủ tục hành chính, thông tin và dịch vụ khác thông qua Internet, giảm thiểu thời gian và chi phí đi lại cho người dân và doanh nghiệp. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến hiệu quả cũng góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

1.2. Các cấp độ dịch vụ công trực tuyến

Dịch vụ công trực tuyến được phân loại thành 4 cấp độ, từ mức độ cung cấp thông tin đơn giản đến mức độ cho phép thực hiện toàn bộ quy trình trực tuyến, bao gồm nộp hồ sơ, thanh toán và nhận kết quả. Các cấp độ này bao gồm: Cấp độ 1 (cung cấp thông tin); Cấp độ 2 (tải biểu mẫu); Cấp độ 3 (nộp hồ sơ trực tuyến); Cấp độ 4 (thanh toán và nhận kết quả trực tuyến). Việc phân loại này giúp các cơ quan nhà nước xác định mục tiêu và lộ trình triển khai dịch vụ công trực tuyến phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế.

II. Thách Thức Phát Triển Dịch Vụ Hành Chính Công Trực Tuyến

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc phát triển DVC trực tuyến ở Việt Nam còn gặp nhiều thách thức. Cơ sở hạ tầng CNTT chưa đồng đều giữa các địa phương. Nhận thức và kỹ năng sử dụng CNTT của người dân còn hạn chế. Các quy trình nghiệp vụ chưa được chuẩn hóa. Khả năng tích hợp, liên thông giữa các hệ thống còn yếu. Các dịch vụ công còn phải qua nhiều cửa và thời gian kéo dài. Theo Đỗ Mai Thanh, việc xây dựng DVC trực tuyến chủ yếu mang tính tự phát, đơn chiếc (Đỗ Mai Thanh, 2012). Để vượt qua các thách thức này, cần có giải pháp đồng bộ về chính sách, công nghệ và nguồn lực.

2.1. Hạn Chế Về Cơ Cấu Tổ Chức và Phương Thức Cung Cấp

Thực tế cho thấy vẫn còn nhiều điểm hạn chế trong công tác cung cấp dịch vụ hành chính công ở Việt Nam. Những điểm hạn chế này chủ yếu nằm ở các mặt nội dung chủ trương và nhận thức chưa rõ ràng, thủ tục hành chính chưa công khai minh bạch, tổ chức và cơ chế hoạt động chưa hiệu quả, đội ngũ cán bộ công chức cung ứng dịch vụ công chưa nắm rõ quy trình, điều kiện vật chất còn thiếu, trong khi cơ chế kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm chưa đủ mạnh.Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ hành chính công còn thiếu kiên quyết và chưa được tập trung cao, kỷ luật, kỷ cương trong cải cách hành chính chưa nghiêm; trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu chưa được quy định rõ.

2.2. Khó khăn về kỹ thuật công nghệ

Việc xây dựng các dịch vụ hành chính công trực tuyến chủ yếu mang tính tự phát, đơn chiếc tùy thuộc vào đơn vị chủ trì xây dựng và sẽ tạo ra nhiều vấn đề lớn phải đối mặt trong tương lai: kiến trúc các hệ thống không đồng nhất, phân mảnh không thể nâng cấp, mở rộng; phần mềm nghiệp vụ được thiết kế theo yêu cầu trước mắt, không tính đến các yếu tố phát triển, tích hợp trong tương lai nên không có tính mở, mềm dẻo để có thể thích nghi được với những thay đổi; khả năng tích hợp, liên thông giữa các hệ thống trong trường hợp kết hợp thành dịch vụ hành chính công điện tử liên thông giữa các cơ quan liên quan rất hạn chế.

2.3. Đảm bảo an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu

Việc số hóa và cung cấp dịch vụ công trực tuyến làm tăng nguy cơ tấn công mạng và xâm nhập dữ liệu. Do đó, cần có các giải pháp bảo mật mạnh mẽ để bảo vệ thông tin cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và hệ thống khỏi các mối đe dọa an ninh mạng. Các giải pháp này bao gồm: mã hóa dữ liệu, xác thực đa yếu tố, giám sát an ninh mạng và ứng phó sự cố.

III. Mô Hình Dịch Vụ Hành Chính Công Trực Tuyến Hiệu Quả

Để xây dựng mô hình DVC trực tuyến hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc: lấy người dân làm trung tâm, đơn giản hóa thủ tục, công khai minh bạch, liên thông tích hợp, bảo mật an toàn và bền vững. Mô hình SOA (Service-Oriented Architecture) có thể được áp dụng. Theo Đỗ Mai Thanh, mô hình SOA cho phép hướng sự tập trung vào xây dựng các tính năng nghiệp vụ trong quá trình phát triển phần mềm (Đỗ Mai Thanh, 2012). Cần đẩy mạnh liên kết, tích hợp các hệ thống thông tin trong dịch vụ liên thông và mô đun hóa phần mềm nghiệp vụ theo kiến trúc SOA.

3.1. Áp Dụng Kiến Trúc Hướng Dịch Vụ SOA

Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) là một phương pháp thiết kế hệ thống phần mềm cho phép các ứng dụng giao tiếp với nhau thông qua các dịch vụ được định nghĩa rõ ràng. SOA giúp tạo ra các hệ thống linh hoạt, dễ bảo trì và có khả năng tái sử dụng cao, phù hợp với việc xây dựng các dịch vụ công trực tuyến liên thông và tích hợp.

3.2. Triển Khai Cơ Chế Một Cửa Một Cửa Liên Thông

Cơ chế một cửa, một cửa liên thông giúp người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ tại một đầu mối duy nhất và nhận kết quả tại đó. Cơ chế này giảm thiểu thời gian và chi phí đi lại, đồng thời tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

3.3. Tăng Cường Tính Liên Thông và Chia Sẻ Dữ Liệu

Để cung cấp dịch vụ công trực tuyến hiệu quả, cần tăng cường tính liên thông giữa các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống giúp giảm thiểu số lần người dân và doanh nghiệp phải cung cấp thông tin, đồng thời cải thiện khả năng phối hợp giữa các cơ quan.

IV. Ứng Dụng Mô Hình Dịch Vụ Hành Chính Công Trực Tuyến

Việc triển khai dịch vụ hành chính công trực tuyến cần gắn với cải cách hành chính. Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai quy trình, nâng cao năng lực cán bộ. Các giải pháp về xác thực, bảo mật trong các dịch vụ liên thông sử dụng Web Service cũng cần được chú trọng. Một ví dụ là dịch vụ "Xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài" có thể được triển khai theo mô hình này. Theo Đỗ Mai Thanh, việc triển khai cần lựa chọn chiến lược quản lý phối hợp các tổ chức trong quy trình (Đỗ Mai Thanh, 2012).

4.1. Ví dụ về Dịch Vụ Xin Thôi Quốc Tịch Việt Nam Trực Tuyến

Dịch vụ "Xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài" là một ví dụ điển hình về dịch vụ công có thể được triển khai trực tuyến. Quy trình này bao gồm nhiều bước, liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau, và có thể được thực hiện hoàn toàn trực tuyến, từ nộp hồ sơ đến nhận kết quả.

4.2. Quy trình Nghiệp vụ và Phân Hệ Phần Mềm Cần Thiết

Để triển khai dịch vụ "Xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài" trực tuyến, cần xây dựng các phân hệ phần mềm sau: Tiếp nhận và xử lý hồ sơ; Xác thực thông tin; Thanh toán lệ phí (nếu có); Thông báo kết quả. Quy trình nghiệp vụ cần được chuẩn hóa và công khai để người dân dễ dàng thực hiện.

4.3. Lựa Chọn Chiến Lược Quản Lý và Phối Hợp Tổ Chức

Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến liên thông đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước. Cần lựa chọn chiến lược quản lý và phối hợp tổ chức phù hợp để đảm bảo tính hiệu quả và chất lượng của dịch vụ. Các chiến lược này có thể bao gồm: quản lý tập trung, quản lý phân tán hoặc kết hợp cả hai.

V. Khuyến Nghị Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Dịch Vụ Công

Để nâng cao hiệu quả khi xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến, cần chú trọng các yếu tố: nguyên lý chung khi lựa chọn dịch vụ, quy trình lựa chọn dịch vụ, mức cung cấp dịch vụ, phí, lệ phí và hình thức trả kết quả. Về nguyên lý chung khi lựa chọn dịch vụ, cần xem xét tính khả thi, tính phù hợp và khả năng giảm thiểu chi phí. Cần cung cấp thông tin sẵn sàng, chức năng tra cứu trạng thái và nhận kết quả. Khuyến nghị về hạ tầng kết nối cũng cần được xem xét.

5.1. Đảm Bảo Tính Khả Thi và Phù Hợp Với Điều Kiện Thực Tế

Việc lựa chọn dịch vụ công trực tuyến cần dựa trên đánh giá kỹ lưỡng về tính khả thi, nguồn lực và điều kiện thực tế của từng địa phương và cơ quan. Tránh triển khai các dịch vụ quá phức tạp hoặc không phù hợp với nhu cầu của người dân.

5.2. Ưu Tiên Các Dịch Vụ Có Tần Suất Sử Dụng Cao

Nên ưu tiên triển khai các dịch vụ công trực tuyến có tần suất sử dụng cao, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân và hoạt động của doanh nghiệp. Điều này giúp tối đa hóa lợi ích và hiệu quả của việc đầu tư vào dịch vụ công trực tuyến.

5.3. Xây Dựng Quy Trình Lựa Chọn và Đánh Giá Dịch Vụ

Cần xây dựng quy trình lựa chọn và đánh giá dịch vụ công trực tuyến rõ ràng, minh bạch, có sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm: người dân, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước. Quy trình này giúp đảm bảo tính khách quan và hiệu quả của việc lựa chọn dịch vụ.

VI. Kết Luận và Tương Lai Của Dịch Vụ Hành Chính Công

Mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam. Việc áp dụng mô hình phù hợp, kết hợp với các giải pháp đồng bộ, sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Tương lai của dịch vụ hành chính công là sự phát triển của các dịch vụ thông minh, cá nhân hóa và tích hợp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

6.1. Tóm Tắt Các Giải Pháp và Khuyến Nghị

Bài viết đã trình bày tổng quan về mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến, các thách thức và giải pháp triển khai hiệu quả, cùng các khuyến nghị để nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp và khuyến nghị này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu xây dựng chính phủ điện tử thành công.

6.2. Hướng Phát Triển Dịch Vụ Hành Chính Công Trong Tương Lai

Trong tương lai, dịch vụ hành chính công sẽ phát triển theo hướng thông minh hơn, cá nhân hóa hơn và tích hợp hơn. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet of Things (IoT) và blockchain sẽ được ứng dụng rộng rãi để cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và tiện lợi hơn.

6.3. Sự cần thiết của việc hợp tác giữa các bên liên quan

Sự phát triển dịch vụ hành chính công không thể chỉ đến từ phía cơ quan nhà nước mà cần đến sự hợp tác của các tổ chức tư nhân, người dân, các tổ chức xã hội. Sự hợp tác này sẽ bảo đảm tính minh bạch và dễ dàng tiếp cận của tất cả các bên trong xã hội.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến phù hợp với thực tế xây dựng chính phủ điện tử tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bảo đảm cung cấp dịch vụ hành chính công là một chức năng quan trọng của nhà nƣớc. Trong bối cảnh công nghệ thông tin (CNTT) đang phát triển hết sức mạnh mẽ, thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội, nhu cầu về cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến có hiệu quả là một nhiệm vụ quan trọng cần phải tập trung giải quyết đƣợc đặt ra nhƣ một ƣu tiên quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội bền vững và vì con ngƣời. Để có thể giải quyết nhiệm vụ xây dựng dịch vụ công trực tuyến một cách hiệu quả, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử của Việt Nam và xu hƣớng phát triển cần phải có nghiên cứu và đánh giá một cách nghiêm túc và toàn diện các mặt kinh nghiệm, lý luận và thực tiễn triển khai liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến. Trong luận văn này, thực trạng xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến gắn với nỗ lực phát triển chính phủ điện tử của một số nƣớc trên thế giới sẽ đƣợc làm rõ.

Cùng với đó, thông tin về thực trạng hạ tầng CNTT, cải cách hành chính gắn với ứng dụng CNTT tại một số cơ quan nhà nƣớc đƣợc thu thập, cho phép việc phân loại, đánh giá nhu cầu phát triển dịch vụ hành chính công trực tuyến phục vụ ngƣời dân, doanh nghiệp đƣợc thực hiện. Căn cứ trên thông tin bài học kinh nghiệm và các đánh giá thực trạng, các yêu cầu chung về hệ thống thông tin để đảm bảo tính khả thi, phù hợp và giảm thiểu chi phí khi xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến đƣợc xác định. Kết quả cuối cùng của đề tài là đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến phù hợp với thực tế xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG I: DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ 1.

Khái niệm Chính phủ điện tử 1. Sự hình thành và khái niệm Chính phủ điện tử Khởi đầu với quá trình cải cách hành chính đƣợc diễn vào những năm 70 của Thế kỷ trƣớc trong các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Anh, tiếp theo là quá trình chính phủ các nƣớc đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào trong hoạt động của các cơ quan chính phủ vào những năm 90, đi cùng đó là sự phát triển mạnh mẽ của mạng máy tính, Internet, tỷ lệ cao ngƣời sử dụng máy tính cá nhân, đã ra đời khái niệm chính phủ điện tử. Một trong những nƣớc đầu tiên đã đƣa ra giải pháp phát triển chính phủ điện tử là Chính phủ Mỹ vào tháng 9/1993. Ngày nay, Chính phủ điện tử (e-government) đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển và ngày càng đƣợc các nƣớc coi nhƣ một giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan chính phủ, phục vụ ngƣời dân và doanh nghiệp tốt hơn trên cơ sở cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, cải tiến quy trình làm việc của chính phủ.

Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đƣa ra khái niệm “chính phủ điện tử” (e- government). Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về Chính phủ điện tử, hay nói cách khác hiện không có một hình thức Chính phủ điện tử đƣợc áp dụng giống nhau cho các nƣớc. Các tổ chức khác nhau đƣa ra những khái niệm về Chính phủ điện tử của riêng mình. Liên Hợp Quốc đƣa ra khái niệm: Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để biến đổi hình thức các hoạt động, cách quan hệ bên trong và bên ngoài của chính phủ.

Chính phủ điện tử theo cách hiểu của Ngân hàng thế giới là: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin (như các mạng diện rộng, Internet, và sử dụng công nghệ di động) có khả năng biến đổi những quan hệ với người dân, các doanh nghiệp, và các tổ chức khác của chính phủ. Những công nghệ đó có thể phục vụ những mục đích khác nhau: cung cấp dịch vụ chính phủ đến người dân tốt hơn, cải thiện những tương tác với doanh nghiệp và giới công nghiệp, tăng quyền cho người dân thông qua truy nhập đến thông tin, hoặc quản lý nhà nước hiệu quả hơn.2 Mô hình tƣơng tác của chính phủ điện tử Việc cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, các tƣơng tác của chính phủ điện tử đƣợc xác định trong mô hình chính phủ điện tử gồm các lĩnh vực sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Chính phủ và ngƣời dân (G2C). - Chính phủ và các doanh nghiệp (G2B). - Giữa các cơ quan chính phủ các cấp với nhau và trong các cơ quan chính phủ (G2G); và - Giữa các cơ quan chính phủ với các cán bộ, công chức (G2G).

Đôi khi ngƣời ta cũng phân nhỏ các lĩnh vực trên thành: G2C (Chính phủ và ngƣời dân) và C2G (Ngƣời dân và Chính phủ), G2B và B2G, G2G, G2E và E2G. Chính phủ và người dân (G2C): Nhóm các dịch vụ của chính phủ đến ngƣời dân bao gồm việc phổ biến thông tin đến ngƣời dân, các dịch vụ cơ bản cho ngƣời dân, và các dịch vụ ngƣời dân thực hiện cho các cơ quan chính phủ. - Các thông tin phổ biến đến ngƣời dân là các thông tin về các cơ quan chính phủ, thông tin về các qui định, chính sách, luật pháp, … giúp cho ngƣời dân hiểu biết tốt hơn về cơ quan chính phủ và công việc của cơ quan, cũng nhƣ trợ giúp họ thực hiện tốt các dịch vụ hành chính. - Các dịch vụ mà chính phủ thƣờng cung cấp cho ngƣời dân là: Làm giấy khai sinh/khai tử/hôn nhân, làm mới hoặc gia hạn các loại giấy phép (lái xe, đăng ký quyền sở hữu nhà ở, …) , cũng nhƣ các dịch vụ trợ giúp ngƣời dân trong giáo dục, bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh, thƣ viện, … - Các dịch vụ mà ngƣời dân thƣờng thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: khai thuế thu nhập, nộp tiền phạt, thay đổi nơi ở, … Tiến tới ngƣời dân tham gia vào các công việc của các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng chính sách, ra các quyết định, bầu cử trực tuyến, … Dịch vụ cho ngƣời dân hƣớng đến có thể đƣợc thực hiện trực tuyến, 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm.

Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải đƣợc cải thiện và tiến tới thực hiện ở bất cứ đâu thuận lợi cho ngƣời dân. Chính phủ và các doanh nghiệp (G2B) Có rất nhiều dịch vụ khác nhau giữa Chính phủ và các doanh nghiệp, bao gồm việc cung cấp thông tin, các dịch vụ của các cơ quan chính phủ cho doanh nghiệp và các dịch vụ mà các doanh nghiệp phải thực hiện đối với chính phủ. - Các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, phổ biến các qui định, các chính sách, các lệnh, các bản ghi nhớ, … của các cơ quan chính phủ cho các doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Các dịch vụ chính phủ thực hiện cho các doanh nghiệp thƣờng là: làm mới và gia hạn các loại giấy phép, các chứng nhận, thanh tra và kiểm tra, … - Các dịch vụ các doanh nghiệp thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: nộp thuế, cung cấp thông tin thống kê kinh doanh, cung cấp thông tin và tham gia vào đấu thầu-mua bán trực tuyến, … Cả chính phủ và các doanh nghiệp cải thiện dần mối quan hệ giữa khu vực nhà nƣớc và khu vực tƣ nhân, thiết lập mối quan hệ trợ giúp nhà nƣớc-tƣ nhân trong Chính phủ điện tử.

Cũng nhƣ Dịch vụ cho ngƣời dân, dịch vụ cho các doanh nghiệp tiến tới thực hiện trực tuyến, tiến tới đƣợc thực hiện 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm. Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải đƣợc cải thiện và tiến tới thực hiện ở bất cứ đâu thuận lợi cho doanh nghiệp. Giữa các cơ quan chính phủ (G2G) Các dịch vụ này có hai mức: ở mức trong nƣớc hoặc địa phƣơng và ở mức quốc tế. - Các dịch vụ tƣơng tác giữa chính quyền trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng ở các tỉnh, thành phố.

- Các dịch vụ tƣơng tác giữa các bộ, ban, ngành và các tổ chức của chính phủ, cũng nhƣ giữa các cơ quan thuộc chính quyền địa phƣơng. - Mở rộng hơn, các dịch vụ thực hiện các giao dịch giữa các chính phủ, và đƣợc sử dụng nhƣ công cụ trong mối quan hệ quốc tế và ngoại giao. Chính phủ đến các công chức (G2E) Các cán bộ công chức chính phủ cũng là những ngƣời dân trong xã hội, nên các dịch vụ cung cấp cho ngƣời dân (G2C) cũng thực hiện cho các công chức nhà nƣớc, ngoài ra các cơ quan chính phủ còn cung cấp các dịch vụ chỉ dành cho các cán bộ công chức chính phủ, nhƣ cung cấp việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, học từ xa (e- learning), quản lý tri thức, cung cấp các thông tin về bảo hiểm, hƣu, mất sức, … Một cách tổng quan, chúng ta có thể thấy lợi ích của Chính phủ điện tử nhƣ sau: - Nhìn từ phía các cơ quan chính phủ: làm tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan chính phủ, chính phủ trở nên minh bạch hơn. - Nhìn từ phía ngƣời dân, doanh nghiệp: Ngƣời dân và doanh nghiệp đƣợc các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin, cung cấp dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn bằng việc cung cấp thông tin, dịch vụ một cách trực tuyến.

Một cách cụ thể, ngƣời dân và doanh nghiệp ngày càng ít phải đến trực tiếp các cơ quan chính phủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 - Ngƣời dân trở thành trung tâm trong quá trình các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ. Nhờ các công cụ của thông tin và truyền thông, cơ quan chính phủ nhanh chóng thu lƣợm đƣợc ý kiến của ngƣời dân và giúp ngƣời dân tham gia dễ dàng hơn trong quá trình ra quyết định của chính phủ. Dịch vụ hành chính công điện tử Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nƣớc (hoặc tổ chức, doanh nghiệp đƣợc ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dƣới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nƣớc đó quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ