MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế ở nước ta, ô nhiễm môi trường trở thành vấn đề cấp thiết hiện nay. Một trong những nguồn chất thải gây ô nhiễm môi trường là từ chăn nuôi. Ngành chăn nuôi ở nước ta những năm gần đây đã và đang phát triển nhanh chóng về cả chất lượng và quy mô. Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng các nguồn chất thải trong chăn nuôi còn nhiều bất cập.
Do chỉ tập trung đầu tư nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi, phần lớn các trang trại chưa chú trọng đến công tác kiểm soát, quản lý chất thải nên làm phát sinh dịch bệnh, tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển bền vững của ngành chăn nuôi. Một số trang trại lớn đã có những biện pháp xử lý nguồn chất thải chăn nuôi, bên cạnh đó một số trang trại chưa quan tâm đến việc xử lý nguồn chất thải và đặc biệt trong chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình trên thực tế thực trạng chăn nuôi theo phương pháp truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế. Do thiết kế chuồng hở và việc vệ sinh không đảm bảo, nên mùi hôi của thức ăn và phân gà toả ra môi trường bên ngoài gây tình trạng hôi thối, mất vệ sinh. Nghiêm trọng nhất là nạn ruồi, nhặng phát sinh từ trang trại gà ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người.
Việc thải phân và nước rửa chuồng trực tiếp ra môi trường gây ra mùi hôi thối cũng gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. việc xử lý chất thải hầu như còn bị thả nổi. Một trong những nguyên nhân là do người chăn nuôi chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc xử lý nguồn chất thải; kinh phí phục vụ cho việc xử lý chất thải còn thấp; luật xử lý chất thải còn chưa đồng bộ và khó áp dụng; chăn nuôi nhỏ lẻ là một trong những nguyên nhân làm việc quản lý và xử lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn. Đây là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm và lây truyền các dịch bệnh cho người, vật nuôi và cây trồng [4,5] Trong qui trình nuôi gà tập trung ở các trang trại, phải sử dụng vỏ trấu hoặc mùn cưa để lót nền chuồng để giữ cho nền chuồng được khô và hạn chế sự ô nhiễm môi trường.
Huyện Lý Nhân và Bình Lục, tỉnh Hà Nam đang phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn cung cấp cho thị trường trong tỉnh và phần 1 lớn cho thị trường Hà Nội. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng tỉ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao. Nhiều biện pháp xử lý kỹ thuật khác nhau đã được áp dụng nhằm giảm thiểu những tác động xấu đến trường do ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi như: phương pháp cơ học, phương pháp lý học, phương pháp hóa học và phương pháp sinh học. Thông thường người ta kết hợp giữa các phương pháp với nhau để xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả và triệt để hơn.Trong các công nghệ áp dụng cho chăn nuôi ở Việt Nam thì công nghệ vi sinh là lĩnh vực được phát triển nhanh và có tính ứng dụng cao và việc thử nghiệm thành công mô hình đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gia cầm sẽ góp phần giải quyết được một lượng lớn các chất ô nhiễm và giảm đáng kể mùi hôi thối từ chất thải chăn nuôi, nâng cao chất lượng môi trường sống, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi[8].
Tuy nhiên, công nghệ sinh học ứng dụng để xử lý chất thải trong chăn nuôi có điều đáng lưu ý là đệm lót sinh học kỵ nước, sinh nhiệt nên địa hình cao ráo và việc làm mát, tản nhiệt khi thời tiết nóng cần phải được quan tâm. Hiện nay, tại Hà Nam đã ứng dụng thành công mô hình chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học, các mô hình đi vào chăn nuôi cho hiệu quả cao. Qua mô hình này đã huy động được sự tham gia của nhiều thành viên trong gia đình cùng thực hiện, cải thiện được môi trường trong chăn nuôi, giảm chi phí lao động. Từ việc chăn nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học đạt kết quả cao, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì tỉnh đã có chủ trương nghiên cứu và xây dựng các mô hình chăn nuôi gia cầm trên nền đệm lót sinh học.
Chăn nuôi gia cầm trên nền đệm lót sinh học, con vật được vận động nhiều, khả năng tiêu hóa và hấp thu nhiều thức ăn hơn, gia cầm nhanh lớn hơn, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Một yếu tố nữa được đánh giá cao là cung cấp tăng thêm nguồn thực phẩm an toàn ra thị trường, tận dụng được nền đệm lót sau khi được thay thế để phục vụ sản xuất cây trồng tốt, đem lại năng suất cao[2,3]. Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải tìm ra giải pháp làm giảm thiểu ô nhiễm 2 môi trường do chăn nuôi gia cầm gây ra mà không ảnh hưởng đến vật nuôi. Phương pháp phải đơn giản, dễ áp dụng và chi phí rẻ hơn so với các phương pháp mà các hộ chăn nuôi đang áp dụng.
Để giải quyết các yêu cầu bức thiết trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia cầm để giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại tỉnh Hà Nam” 3 CHƢƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hiện trạng chăn nuôi gà ở thế giới và Việt Nam 1. Hiện trạng chăn nuôi gà trên thế giới Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại. Ngày nay, nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất.
Ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO, năm 2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: tổng đàn trâu 182,2 triệu con và phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1. Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm. Về chăn nuôi gà: số một là Trung Quốc với 4702,2 triệu con, thứ hai là Indonesia với 1341,7 triệu con, thứ ba là Braxin với 1205,0 triệu con, thứ tư là Ấn Độ với 613 triệu con và thứ năm Iran với 513 triệu con [19].
Về số lượng vật nuôi của thế giới: các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ, Braxin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về lợn, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà. Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới có ba hình thức cơ bản: Thứ nhất chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao, thứ hai chăn nuôi trang trại bán thâm canh và chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh. Chăn nuôi thế giới đang từng bước chuyển dịch từ các nước đã phát triển sang các nước đang phát triển. Các nước đã phát triển xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển ngành chăn nuôi duy trì ở mức ổn định, nâng cao quá trình thâm canh, các biện pháp an toàn sinh học, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Các nước đang phát triển ở châu Á và châu Nam Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vực chăn 4 nuôi chính và cũng đồng thời là khu vực tiêu thụ nhiều sản phẩm chăn nuôi. Các nước đã phát triển chỉ duy trì ổn định sản lượng chăn nuôi của họ để đảm bảo an toàn thực phẩm, phần thiếu hụt sẽ được nhập khẩu từ các nước xuất khẩu vượt qua được hàng rào kỹ thuật về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của họ. Đây là cách tiếp cận để giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh ở động vật, đặc biệt là các dịch bệnh có khả năng lây nhiễm sang người(như dịch cúm gia cầm)[20]. Chăn nuôi gia cầm là nghề chăn nuôi truyền thống ở Việt Nam, các sản phẩm gia cầm, đặc biệt là thịt gà, không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị mà còn in đậm trong đời sống xã hội bởi một nền văn hóa ẩm thực với cả yếu tố tâm linh; nó được sử dụng nhiều trong những ngày giỗ, ngày tết và lễ hội.
Với những lý do đó, sản phẩm gia cầm luôn có vị trí trên thị trường tiêu thụ, đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong 20 năm qua, chăn nuôi gia cầm phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm qua các giai đoạn có xu hướng tăng lên rõ rệt. Trong các loại gia cầm, gà là loại chính chiếm trên 75% tổng gia cầm. Bên cạnh đó, trong những năm qua, một số loại gia cầm khác cũng khá phát triển như ngan, vịt.
Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm này khá lớn và là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển. Thời gian gần đây, việc đưa các giống gà mới như Tam Hoàng, Rốt Ri về hộ nông dân phát triển thả vườn đem lại hiệu quả tốt, góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi [4,5]. Sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam có 3 cách thức chăn nuôi chính: chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp. Việt Nam với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, do vậy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triển chăn nuôi.
Theo báo cáo của 60/64 tỉnh thành tính đến 01/10/2006 có tổng số 16.012 trang trại, trong đó miền Bắc có 6.101 trang trại, miền Nam có 9. Chăn nuôi gia cầm chiếm 15,4% trang trại chăn nuôi[4].