CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm chủ chốt 1.1 Khái niệm Hội chứng tự kỷ Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm thần học được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của tâm thần phân liệt. Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng âm tính trong tâm thần phân liệt. Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp và tương tác với môi trường xã hội.
Biểu hiện như thu kín vào bên trong, khó giao tiếp, khó tương tác. Chứng tự kỷ ở trẻ em được phát hiện và mô tả tại Mỹ, Úc bởi Leo Kanner (1943) và Hans Asperer (1944) dùng để một chứng bệnh ( ngày nay gọi là rối loạn) biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện: - Chức năng tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng - Chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường - Hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình lặp đi lặp lại - Phát bệnh trước 36 tháng tuổi [43] Theo khái niệm của tổ chức Liên Hợp Quốc: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được thể hiện trong vòng 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội.
Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại.2 Khái niệm Trẻ Tự kỷ Tự kỷ trẻ em là những trẻ phát triển tâm lý không bình thường với các rối loạn chủ yếu về chi giác xã hội - liên nhân cách và chức năng giao tiếp. Ở hội chứng rối loạn này, thường quan sát thấy tổ hợp chậm phát triển , sự tổn thương hoặc tăng tốc phát triển từng chức năng riêng lẻ. Tuy nhiên có thể nhận thấy rõ nhất là sự mất cân đối trong phát triển của trẻ. Biểu hiện Tự kỷ có thể quan sát thấy ở trẻ 1 tuổi[10] Hội chứng tự kỷ là một trong những hội chứng phát triển ở trẻ em.
Trong phân loại của tổ chức y tế thế giới trước đây thì người ta xếp nó vào loại bệnh tâm thần, nhưng ngày nay nó được tách ra như là một hội chứng rối loạn phát triển [22]. Biểu hiện bên ngoài của trẻ mắc hội chứng tự kỷ rất đa dạng cộng với nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp vì vậy nhiều cha mẹ khi được thông báo con mắc chứng tự kỷ thường rất sốc họ chỉ nghĩ con mình chậm nói, hiếu động hoặc nhút nhát hơn so với các bạn bình thường. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã tổng kết những nhóm biểu hiện để đánh giá trẻ có nguy cơ mắc chứng tự kỷ hay không. Năm 1979, Wing và Gound đưa ra mô hình 3 khiếm khuyết (Traid of Impairmemts) để mô tả những đặc điểm điển hình giúp nhận biết trẻ tự kỷ: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay trong các cơ sở trị liệu trong bệnh viện (Bệnh viện Nhi Trung Ương….) hoặc các trung tâm hỗ trợ can thiệp, hỗ trợ hòa nhập đã sử dụng các bảng đánh giá như : Bảng đánh giá Denver, Bảng kiểm tra CHAT… Trong cuốn “Sổ tay tự kỷ của Bác sĩ” của tổ chức HANS – Help autism now society được trường GD chuyên biệt Khai Trí biên dịch 2007 [25] có thống kê những triệu chứng hành vi của trẻ tự kỷ như sau: - Các vấn đề xã hội: Không quan tâm đến các trẻ khác đang chơi; Có vẻ hằn học với anh chị em; Ngồi gào khóc một mình thay vì gọi mẹ; Không để ý lúc cha mẹ đi hay về nhà; Không quan tâm chơi ú òa hay những trò chơi tương tác khác, Phản ứng mạnh khi được cha mẹ bế bồng, ôm hay hôn; Không giơ tay đòi bế ra khỏi nôi khi có người đến bế.
- Các vấn đề trong giao tiếp: Trẻ tự kỷ thường không nhận biết được môi trường xung quanh và khó tiếp xúc mắt. Vì thế trẻ không quan tâm đến giao tiếp. Khi trẻ cần gì thường cầm tay dắt đến vật đó hay nói cách khác trẻ dùng cha mẹ hay người lớn như một công cụ để lấy vật trẻ yêu thích - Có những hành vi lập đi lập lại: Vẫy tay, nhìn liên tục vào quạt trần đang quay, quay vòng vòng, xếp các trò chơi thành hàng dài, không quan tâm đến đồ chơi mà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ gắn bó với 1 vật dụng, thích bắt các hạt bụi trong ánh nắng, không biết cách chơi phù hợp với đồ chơi mà chỉ thích một phần của đồ chơi - Những hành vi bất thường: lắc lư, đung đưa, bật tắt đèn liên tục, ăn những thứ bất thường như quần áo…, búng ngón tay trước mặt, chui xuống gầm các vật nặng (giường, tủ , bàn…), bôi trét phân, thích các động tác mạnh trên cơ thể - Các vấn đề về vận động: Trẻ tự kỷ có những vận động bất thường. Một số có thể có những kỹ năng vận động đặc biệt ở một số lĩnh vực nhưng lại bị khiếm khuyết ở những vận động khác.
Ngay cả những trẻ có kỹ năng vận động bình thường cũng có thể gặp khó khăn với những hoạt động như đạp xe ba bánh, hay lái xe ô tô đồ chơi: khiếm khuyết vận động tinh (cầm bút viết, nặn đất nặn, nhặt hạt đỗ); phối hợp kém; đi nhón chân, khiếm khuyết nhận biết chiều sâu, giữ thăng bằng lạ thường, vụng về, hay nhiễu nước bọt, không biết đi xe đạp hoặc các trò chơi lái xe - Nhạy cảm quá mức: Trẻ tự kỷ rất khó chịu đựng âm nhạc, tiếng động, các loại mặt vải và những thay đổi môi trường hay sinh hoạt, càng tiếp xúc nhiều với cảm giác trẻ càng có phản ứng: khó chịu khi cắt tóc, không chịu buộc dây an toàn, không chịu tắm, sợ bóng bay hay nến sinh nhật, không chịu được mùi lạ, âm nhạc, thích quay các vật trước mặt, giả điếc, không có cảm giác nóng/ lạnh, xé quần áo hoặc không cho mặc/ cởi quần áo - Hành vi gây thương tích: đập đầu, cắn , cấu xé … - Các vấn đề an toàn: trẻ không tự nhận viết được các vấn đề về an toàn 1.3 Phổ tự kỷ Trẻ có hội chứng tự kỷ có các mức độ khác nhau và có những biểu hiện rất khác nhau từ nặng đến nhẹ , được gọi là phổ tự kỉ [10] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nặng Nhẹ Tự kỷ điển Các hội chứng tự Hội chứng hình kỷ khác Asperger Phổ tự kỷ 1.4 Khái niệm liên quan đến mô hình giáo dục cho trẻ tự kỷ Giáo dục học trẻ khuyết tật (GDHTKT, Disadvantage children pedagogy) bộ phận, một phân nghành của giáo dục học có nghiệm vụ nghiên cứu những đặc điểm của quá trình giáo dục, dạy học những trẻ có khuyết tật về thị giác, thính giác, ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ. GDHTKT nghiên cứu đề ra những mục tiêu , yêu cầu, nội dung, phương pháp phương tiện hình thức tổ chức giáo dục phù hợp cới từng loại đối tượng học sinh đặc biệt để tạo cho các em có điều kiện hòa nhập với cộng đồng và có khả năng tự đảm bảo cuộc sống [12.1] Can thiệp sớm: (CTS, early intervention) Can thiệp liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ sơ sinh và gia đình trẻ hoặc những trẻ có nguy cơ cao hay chậm phát triển, khuyết tật (từ khi sinh đến 6 tuổi). CTS thúc đẩy sự phát triển của trẻ và gia đình để xác định vấn đề và giảm thiểu những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển chung của trẻ. CTS chia làm 2 giai đoạn chính 0-3 tuổi và từ 3-6 tuổi với mục đích hỗ trợ và nâng cao khả năng cho gia đình và người chăm sóc để họ có năng lực hỗ trợ trẻ và có nhu cầu giáo dục đặc biệt được phát triển tốt nhất khả năng và tiềm năng của mình [12.2] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục đặc biệt: (GDĐB , specail education) chương trình, dịch vụ giáo dục dành riêng cho những trẻ ngoại lệ như trẻ khuyết tật, trẻ có năng khiếu đặc biệt.3] Giáo dục hội nhập: (GDHN integrated education) Hình thức giáo dục trẻ có nhu cầu GDĐB , trong đó những trẻ này học tập chuyên biệt theo chương trinh, nội dung riêng với thời lượng nhất định, thời gian còn lại tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt xã hội cùng các bạn bình thường và với cộng đồng.
Có 4 mức độ: Hội nhập thể chất : Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được giao lưu và vui chơi với nhau ở một địa điểm, trong một thời gian nhất định Hội nhập chức năng: Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được tham gia cùng nhau trong một số hoạt động như thể thao, vẽ. Hội nhập xã hội: Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được cùng học với nhau một trường nhưng theo các chương trình khác nhau, có giờ học chung và riêng tùy theo môn học và khả năng học của trẻ. Hội nhập hoàn toàn : Trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu GDĐB được cùng học theo một chương trinh cứng bắt buộc [12.4] Giáo dục tách biệt – chuyên biệt: (GDTB - GDCB, Segregated education) Phương thức giáo dục trẻ em có cùng dạng, mức độ nhu cầu giáo dục đặc biệt học theo chương trình chuyên biệt khác với chương trình giáo dục phổ thông tại cơ sở giáo dục riêng. GDTB xuất phát từ quan điểm mọi người đều có quyền được giáo dục và trẻ khuyết tật có những đặc điểm phát triển riêng.
Mặt khác, mỗi dạng khuyết tật lại có những ảnh hưởng khác nhau đến quá trinh nhận thức của học sinh, GDTB tập trung vào việc nghiên cứu nội dung, phương tiện, phương pháp phù hợp nhất và tổ chức giáo dục cho trẻ có cùng dạng khuyết tật như nhau tại các cơ sở chuyên biệt [12.5] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục hòa nhập (GDHN, Inclusive education) hình thức giáo dục trẻ có nhu cầu đặc biệt trong môi trường giáo dục phổ thông cùng trẻ bình thường theo chương trình chung được điều chỉnh đảm bảo điều kiện cần thiết để phát triển tốt nhất khả năng của trẻ. GDHN dựa trên quan điểm giáo dục cho mọi trẻ em, không tính đến nguồn gốc, xã hội, dân tộc, kinh tế và mức độ khuyết tật GDHN thừa nhận sự khác biệt giữa các trẻ em.