MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển với những thành quả khoa học to lớn, đời sống con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao, nhiều loại hình chăm sóc sức khỏe mới phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con ngƣời xuất hiện song con ngƣời cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Trong đó, tự kỷ là một dạng hội chứng lan tỏa ngày càng phát triển và ảnh hƣởng đến con ngƣời trong xã hội hiện đại mà khoa học chƣa tìm ra nguyên nhân cụ thể cũng nhƣ hạn chế về phƣơng pháp điều trị hữu hiệu. Đồng thời hội chứng này có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chất lƣợng cuộc sống cá nhân và cộng đồng.
Trẻ tự kỷ cũng nhƣ các trẻ em khác phải đƣợc hƣởng những quyền trẻ em, trong đó có quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe thế chất, tinh thần và đƣợc giáo dục. Việc can thiệp để giúp trẻ hòa nhập với xã hội là một việc quan trọng, có ý nghĩa nhân đạo, là điều kiện hết sức quan trọng giúp trẻ tự kỷ sớm đƣợc can thiệp và có cơ hội hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ vẫn còn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, vẫn còn nhiều trƣờng không nhận trẻ tự kỷ, hay nhận nhƣng trẻ tự kỷ chƣa nhận đƣợc sự chăm sóc và giáo dục phù hợp, có hiệu quả. Tuyên Quang là một tỉnh vùng núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn cả về tài lực, vật lực lẫn nhân lực phục vụ cho giáo dục, đặc biệt là mô hình giáo dục hòa nhập.
Nhƣng địa phƣơng đã có sự quan tâm, đầu tƣ cho giáo dục trẻ khuyết tật và có những thành công nhất định. Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật mới chỉ đẩy mạnh việc chăm sóc, can thiệp cho những trẻ khuyết tật về thể chất bằng các phƣơng pháp y học nên còn nhiều hạn chế trong can thiệp tâm lý giáo dục. Chính vì vậy, để khắc phục những hạn chế trong giáo dục trẻ tự kỷ cần có sự kết hợp giữa các trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật với các trƣờng mầm non trên địa bàn giúp trẻ phát triển đồng đều và hòa nhập với cộng đồng. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trường mầm non” tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 1 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu: Công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tuổi mầm non tại thành phố Tuyên Quang.
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang. Giả thuyết khoa học Nếu đánh giá đúng thực trạng và đề xuất đƣợc các biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non phù hợp với điều kiện, chức năng của trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, trƣờng mầm non để vận dụng trong tổ chức giáo dục hòa nhập sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở thành phố Tuyên Quang hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non.
Nghiên cứu thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tuổi mẫu giáo từ 3 - 5 tuổi theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 08 năm 2015.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm Phục hồi chức năng Hƣơng Sen; Trƣờng Mầm non Phan Thiết; Trƣờng Mầm non Sao Mai; Trƣờng Mầm non Tân Trào và Trƣờng Mầm non Ỷ La, thành phố Tuyên Quang 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 7. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích và đánh giá những chuyên đề, bài viết, công trình của các tác giả trong và ngoài nƣớc, đƣợc đăng trên các sách báo, tạp chí, mạng internet… về tình trạng tự kỷ ở trẻ em, về giáo dục và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Đề tài sử dụng phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi; Phƣơng pháp quan sát; Phƣơng pháp trò chuyện; Phƣơng pháp chuyên gia; Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp; Phƣơng pháp trắc nghiệm tâm lý; Phƣơng pháp thực nghiệm; Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm để nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Phương pháp thống kê toán học Đề tài sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để tính các số liệu nghiên cứu thực trạng; xác định thông số định lƣợng và định tính về kết quả nghiên cứu. Cấu trúc luận văn Luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật và trƣờng mầm non tại thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ TỰ KỶ LỨA TUỔI MẦM NON THEO MÔ HÌNH KẾT HỢP GIỮA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT VÀ TRƢỜNG MẦM NON 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Ngay từ đầu thế kỷ 19 đã có rất nhiều báo cáo về trƣờng hợp đơn lẻ của những trẻ rất bé mắc các bệnh rối loạn tâm trí nặng có liên quan đến một biến dạng rõ của quá trình phát triển và Mausdley (1876) đã là nhà tâm bệnh học đầu tiên chú ý đến nghiên cứu về những trạng thái này. Tuy nhiên mãi rất lâu về sau này thì các rối loạn này mới đƣợc khoa học thừa nhận.
Ban đầu, chúng đƣợc xếp vào một dạng tâm thần phân liệt. Đến năm 1911, nhà tâm thần học Bleuler đã là ngƣời đầu tiên nói đến các rối loạn này dƣới khái niệm “tự kỷ”. Theo ông đó là một trong những triệu chứng tiên phát cơ bản của tâm thần phân liệt ngƣời lớn và tính tự kỷ là thể hiện một sự tập trung toàn bộ đời sống tâm lý của một con ngƣời vào thế giới bên trong của mình cùng với sự mất đi tiếp xúc, sự cắt rời với thế giới bên ngoài. Năm 1943, bác sĩ Leo Kanner (ngƣời Mỹ gốc Áo) đã công bố nghiên cứu của mình về trẻ tự kỷ, nghiên cứu này đã làm cho mọi ngƣời biết đến sự hiện diện của dạng tật này trong xã hội.
Sau phát hiện của bác sĩ Kanner, sự quan tâm của giới khoa học về hội chứng tự kỷ ngày càng gia tăng. Đã có nhiều nghiên cứu giải thích về căn nguyên của tự kỷ và mô tả chi tiết những hành vi thực sự của những trẻ này. Sau đó, nhiều phƣơng pháp trị liệu và giáo dục đã ra đời góp phần cải thiện chất lƣợng cuộc sống của những trẻ tự kỷ. Các nghiên cứu nhƣ: cách tiếp cận D.R (Developmental, Individual-Difference, Relationship-based) của tiến sĩ Greenspan và tiến sĩ Wieder, phƣơng pháp ABA, phƣơng pháp Teach,.
Những phƣơng pháp này chủ yếu đƣợc áp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng đối với môi trƣờng chuyên biệt hoặc chăm sóc, giáo dục tại gia đình. Chúng rất khó áp dụng để dạy học tại các lớp hòa nhập. Trong công trình nghiên cứu của mình Bruno Bettlheim cho rằng trẻ bị tự kỷ là do ngƣời mẹ bỏ mặc, vì ngƣời mẹ có học cao nên thiên về ứng xử lý trí hơn là tình cảm, sống lạnh lùng, không yêu con. Do cách sống thờ ơ đó nên những đứa con phản ứng lại bằng cách không muốn gần mẹ, không muốn ôm, hôn mẹ, không muốn nhìn vào mắt mẹ và không nói, đồng thời trẻ cũng ứng xử nhƣ vậy với ngƣời khác.
Nghiên cứu của Lorna Wing cũng chỉ ra rằng: trong sử dụng lời nói của trẻ tự kỷ, trẻ hoặc câm lặng suốt đời hoặc bắt chƣớc tiếng kêu của loài vật, tiếng lạ hoặc lặp câu, lặp từ; ngữ điệu và việc làm chủ lời nói thì kì dị, đơn điệu, máy móc, đổi giọng không đúng chỗ… Trẻ dƣờng nhƣ không nghe, không hiểu, không trả lời ngƣời khác. Trẻ chỉ nghe, hiểu trong tình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ. Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sự không bình thƣờng xuất phát từ mối quan hệ mẹ con. Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình với ngƣời mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thƣờng, sau đó đến giai đoạn chia cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân).
Có một số rối loạn trong quá trình này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹ và cá nhân hóa.