Chương 1: Tổng quan về đề tài. Ở chương này, đưa ra lý do chọn đề tài, mục tiêu và giới hạn đề tài, nội dung nghiên cứu và bố cục. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Ở chương này, trình bày các nội dung liên quan đến hệ thống lái và hệ thống lái trợ lực điện.
Chương 3: Thi công mô hình. Ở chương này, trình bày quá trình thiết kế và thi công các bộ phận và hoàn thiện mô hình. Chương 4: Vận hành mô hình. Ở chương này, trình bày kết quả nhận được sau khi vận hành.
Chương 5: Tổng kết. Ở chương này, đưa ra kết luận về đề tài và những kiến nghị nhằm phát triển đề tài sau này. Phương pháp nghiên cứu Đề tài hoàn thành chủ yếu dựa trên phương pháp nghiên cứu như: tham khảo tài liệu do giảng viên cung cấp và các giáo trình trong quá trình đã học để biết được cơ sở lý thuyết và các số liệu chính xác để thiết kế cơ bản. Đồng thời kết hợp với tra cứu tài liệu qua các website về ô tô.
Tham khảo ý kiến của thầy hướng dẫn để tìm kiếm phương án tối ưu nhất để thực hiện đề tài. Tham khảo các mô hình liên quan trong xưởng thực hành. 2 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Công dụng, yêu cầu và phân loại hệ thống lái Công dụng: Hệ thống lái của ô tô có nhiệm vụ chính là thay đổi quỹ đạo chuyển động của ô tô bằng cách xoay các bánh dẫn hướng.
Việc điều chỉnh quỹ đạo chuyển động của ô tô nhằm mục đích thay đổi hướng chuyển động hay giữ phương chuyển động theo hướng nhất định. Để điều chỉnh được hướng chuyển động của xe thì vành lái phải nhận được một lực xoay của người lái và truyền lực này đến hệ thống lái. Trục lái được gắn với vành lái sẽ truyền mô-men tới cơ cấu lái, lúc này cơ cấu lái sẽ tăng mô-men quay của vành lái và truyền lực này đến các thanh dẫn động lái. Các thanh này sẽ truyền chuyển động từ cơ cấu lái đến các bánh xe dẫn hướng.
Yêu cầu: Hệ thống lái phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Khả năng quay vòng hẹp dễ dàng: Khi xe quay vòng trên đường hẹp và gấp khúc, thì hệ thống phải quay được bánh xe dẫn hướng nhanh chóng, đơn giản và êm dịu. - Lực tác dụng lên vô lăng phải nhẹ, vô lăng phải mang cảm giác dễ chịu cho người lái. - Khi thay đổi hướng chuyển động, các bánh xe phải xoay một cách nhẹ nhàng, thoải mái. - Có khả năng tự trả lái.
- Hạn chế các va đập truyền từ bánh xe lên vô lăng. - Đảm bảo động học quay vòng đúng để các bánh xe không bị trượt lết khi quay vòng. Phân loại hệ thống lái: - Theo cách bố trí vô lăng: + Bố trí vành lái bên phải. + Bố trí vành lái bên trái.
- Theo kết cấu của cơ cấu lái: + Cơ cấu lái kiểu bi tuần hoàn. + Cơ cấu lái kiểu trục vít – thanh răng. 3 - Theo số bánh xe dẫn hướng: + Bánh xe dẫn hướng cầu trước. + Bánh xe dẫn hướng của tất cả các cầu.
- Theo loại trợ lực lái: + Hệ thống lái trợ lực lái thủy lực. + Hệ thống lái trợ lực lái điện. + Hệ thống lái trợ lực lái thủy lực - điện tử. Cấu tạo chung của hệ thống lái trên ô tô Hình 2.
Cấu tạo cơ bản của hệ thống lái 2. Vô lăng Vô lăng (vành tay lái) là bộ phận đặt trên buồng lái, có thiết kế gần giống nhau ở tất cả các loại xe. Nó có dạng hình vành khăn được làm bằng thép, bên ngoài được phủ bằng các vật liệu nhẹ, mềm như da hoặc nhựa và kết nối với trục lái bằng then hoa, ren và đai ốc, có nhiệm vụ tiếp nhận mô-men quay từ người lái khi tiến hành đánh lái và truyền cho trục lái. Ngoài nhiệm vụ chính là tạo mô-men lái, vô lăng còn được trang bị thêm các thành phần khác của xe như: Nút điều khiển còi, túi khí an toàn, công tắc tổng hợp, … 4 Hình 2.
Trục lái Trục lái có chức năng truyền mô-men quay từ vành lái đến cơ cấu lái. Trục lái bao gồm trục lái chính để truyền chuyển động quay và ống trục lái để giữ trục lái vào khung xe. Đầu trên của trục lái chính được làm nhỏ, có các răng cưa để gắn với vô lăng thông qua đai ốc. Đầu còn lại của trục lái chính liên kết với cơ cấu lái bằng khớp các đăng để hạn chế việc truyền chấn động từ mặt đường lên vô lăng.
Ngoài nhiệm vụ truyền mô-men quay từ vành lái đến cơ cấu lái, trục lái còn được gắn thêm nhiều thành phần khác của ô tô như: Cơ cấu khóa trục lái, cần điều khiển hệ thống đèn gạt mưa, cơ cấu nghiêng trục lái, cơ cấu hấp thụ va đập, cơ cấu trượt tay lái…. Các cơ cấu này mang lại cho người lái sự thoải mái khi di chuyển. Kết cấu của trục lái 1- Vành lái; 2- Cụm công tắc đèn - gạt mưa; 3-Cụm khóa điện; 4- Vỏ trục lái 5- Khớp các đăng; 6- Trục các đăng; 7-Khớp cao su Một số cơ cấu khác của trục lái: Cơ cấu hấp thụ va đập: Cơ cấu này sẽ triệt tiêu lực va đập tác dụng lên người lái khi có va chạm. Nó bao gồm các loại sau: Loại bi cao su, loại giá đỡ uốn, loại ăn khớp, loại ống xếp.
Cơ cấu hấp thụ va đập Cơ cấu nghiêng trục lái: Dùng để thay đổi vị trí vành lái lên xuống nhằm đạt được tư thế lái phù hợp. Cơ cấu nghiêng trục lái Cơ cấu trượt vô lăng: Dùng để thay đổi vị trí của vành lái vào và ra để đạt được tư thế ngồi thích hợp cho người điều khiển. Cơ cấu trượt vô lăng Cơ cấu khoá tay lái: Khi người điều khiển rút chìa khóa ra khỏi ổ, cơ cấu này sẽ hoạt động và khóa trục lái chính vào ống nhằm mục đích chống trộm. Một số trạng thái khi làm việc của cơ cấu khóa: Hình 2.
Cơ cấu khóa trục lái và các trạng thái làm việc 8 Hình 2. Cơ cấu khóa trục lái và các trạng thái làm việc Hình 2. Cơ cấu khóa trục lái và các trạng thái làm việc 2. Cơ cấu lái Cơ cấu lái là cơ cấu truyền, thay đổi mô-men lái và hướng quay của vành lái đến các bánh xe thông qua các thanh dẫn động lái và các bánh răng, trục vít đai ốc được kết nối với nhau.
Cơ cấu lái còn được xem như bộ giảm tốc thông qua các bánh răng làm tăng mô-men đầu ra giúp giảm lực đánh lái. Tỉ số truyền bằng 18 - 20 đối với xe con. Tỉ số tăng sẽ giảm được lực đánh lái nhưng sẽ làm vô lăng quay nhiều hơn. 9 Một số kiểu cơ cấu lái phổ biến: - Kiểu trục vít - thanh răng: Trục vít ở bên dưới trục lái chính được kết nối với thanh răng.
Khi đánh lái, trục vít quay làm di chuyển thanh răng sang trái hoặc sang phải. Sự dịch chuyển này của thanh răng được truyền tới cam lái qua các đầu thanh răng và thanh lái. Kiểu trục vít – thanh răng Ưu điểm: + Kết cấu nhỏ gọn, đơn giản, nhẹ. + Có độ nhạy cao do được kết nối trực tiếp.
+ Tay lái rất nhẹ do lực cản trượt và cản lăn nhỏ và sự truyền mô-men tốt. + Giảm bớt yêu cầu phải bảo dưỡng thường xuyên do cơ cấu kín. - Nhược điểm: + Cơ cấu có chiều dài lớn. + Dễ bị cong hoặc hư hỏng trong quá trình hoạt động.
- Kiểu bi tuần hoàn: Cả hai đầu trục vít được đỡ bằng ổ bi đỡ chặn. Một đai ốc bi sẽ di chuyển trên trục vít thông qua các viên bi ở trong các rãnh xiên trên trục vít và bên 10 trong đai ốc. Các viên bi chuyển động trong những rãnh này, các rãnh được chế tạo như hình dưới để cho các bi tuần hoàn liên tục. Trục rẻ quạt được gắn vào cơ cấu lái ăn khớp với răng của đai ốc bi, và khi trục vít quay, đai ốc bi chuyển động dọc theo trục vít.
Quá trình này làm quay trục rẻ quạt dẫn đến quay đòn lắc. Kiểu bi tuần hoàn Ưu điểm: + Lực cản trượt nhỏ. + Tạo ra tải trọng ban đầu lên trục rẻ quạt và đai ốc bi trong một dải khoảng 5o về phía bên phải và bên trái so với vị trí xe chuyển động thẳng giúp ổn định lái. Nhược điểm: + Trong sử dụng, độ rơ do ăn khớp giữa ren trục vít và răng con lăn sẽ tăng dần vì mài mòn, nên độ rơ cơ cấu lái ngày càng lớn.
Khi độ rơ quá lớn hiệu quả điều khiển hai chiều của cơ cấu lái sẽ kém, dẫn tới giảm độ nhạy của hệ thống lái. Dẫn động lái Dùng để truyền chuyển động của cơ cấu lái đến để quay các bánh xe dẫn hướng, điều khiển chuyển động của bánh xe thông qua sự liên kết giữa các thanh truyền và các 11 tay đòn với các khớp nối. Các chi tiết gồm: - Đòn quay: Có tác dụng truyền chuyển động của cơ cấu lái đến thanh ngang hoặc thanh kéo. Đầu to được chế tạo dạng then hoa để gắn vào trục rẽ quạt của cơ cấu lái và cố định bằng đai ốc.
Đầu nhỏ gắn với thanh ngang hay thanh kéo thông qua khớp cầu. Đòn quay - Thanh ngang: Được gắn với đòn quay, thanh lái và đòn đỡ. Dùng để truyền chuyển động của đòn quay tới các thanh lái. Thanh ngang 12 - Thanh lái: Đầu thanh lái được gắn vào đầu thanh răng trong cơ cấu lái để thay đổi khoảng cách giữa các khớp cầu.
Thanh lái - Khớp cầu: Dùng để nối giữa các đòn quay và đòn kéo. Đầu thanh lái (Khớp cầu) - Đòn cam lái: Có một đầu gắn với thanh kéo ngang bằng khớp cầu, một đầu gắn với cam lái của bánh xe dẫn hướng để điều khiển bánh xe chuyển động. Đòn cam lái - Cam lái: Dùng để gắn các bánh xe dẫn hướng. Cam lái được nối với dầm cầu dẫn hướng bằng các bạc và chốt quay lái hoặc bằng các khớp cầu.
Cam lái 14 - Giảm chấn lái: Một ống giảm chấn nằm giữa các thanh dẫn động lái và khung để hấp thụ các tác động truyền từ các bánh xe lên vành lái. Góc đặt bánh xe Trong quá trình vận hành, các đặc tính của xe cũng thay đổi theo thời gian. Trong khoảng thời gian đó việc lão hóa, hao mòn diễn ra liên tục, đặc biệt khi xe chuyển động nhiều trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, đường xấu, sỏi đá, … hoặc do va chạm, tai nạn làm ảnh hưởng đến hệ thống lái. Nếu không được phát hiện kịp thời sẽ gây ra mất cân bằng của hệ thống lái.