CHƯƠNG 1. TỐNG QUAN Ởphần này, nội dung tông quan đề cập đến tình hình thế giới cũng như trong nước về sự phát triển và nhu cầu cần thiết của mô hình thực hành y khoa trong các cơ sở đào tạo y tế. Tổng quan về cánh tay Silicone Tay Silicone được gọi chung là bộ phận giả (hoặc bộ phận thay thế) là một bộ phận nhân tạo dùng để thay thế cho một bộ phận bị mất do bẩm sinh, bệnh tật, hay các chấn thương hậu tai nạn [3]. Phần lớn các loại bộ phận giả thường có tính thẩm mỹ, có the không có chức năng, hoặc có the cung cấp chức năng gần giống với chức năng cơ bản nhất của tay bình thường, về cơ bản, cánh tay Silicone ra đời nhằm mục đích thay thế, tạo nét thấm mỹ cho con người.
Theo thời gian, nó được ứng dụng và sử dụng rộng rãi ở các nơi như thấm mỹ viện, phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, xưởng chế tạo,. Hình minh họa cảnh tay Silicone Với đặc điểm của Siliconee là không gây dị ứng, kích ứng da khi tiếp xúc trực tiếp, chịu được môi trường nước, ánh nắng mặt trời và không bị co dãn theo thời tiết, Silicone là giải pháp tuyệt vời cho việc tiến hành chế tạo tay giả. Hiện nay dựa vào chức năng cùa tay Silicone, người ta chia chúng ra làm 3 loại phổ biến là: Tay thẩm mỳ, Tay cơ và Tay điện > Tay thẩm mỹ SVTH: Lê Huỳnh Long GVHD: Th.s Nguyền Thị Huỳnh Lan Trân Văn Nghĩa ĐÒ ÁN TỐT NGHIỆP 2 Hình 1. Hình minh họa tay thẩm mỹ Tay thẩm mỹ được ra đời sớm nhất so với các loại tay khác trên thị trường hiện nay, người ta chế tạo ra nó với mong muốn hồ trợ những người bị khuyết tật bẩm sinh, tai nạn nghề nghiệp hoặc thương binh sau chiến tranh bị mất chi, giúp họ hoà nhập dề dàng hơn với cộng đong.
Loại cánh tay này được các nghệ nhân chế tạo một cách tỉ mỉ từng chi tiết sao cho thật giống với cánh tay còn lại cùa nạn nhân. Nhược diem của loại tay này là chỉ có thể kết nối với phần bị cụt và hoàn toàn không có chức năng gì khác. Tuy nhiên loại tay này lại phổ biến và được sử dụng nhiều hơn do giá thành phải chăng, độ bền tốt trước các điều kiện khách quan, phù hợp với mọi hoàn cảnh nạn nhân, đồng thời cũng là loại tay thích hợp sử dụng cho mục đích nghiên cứu học thuật. Hình minh họa tay cơ SVTH: Lê Huỳnh Long GVHD: Th.s Nguyền Thị Huỳnh Lan Trân Văn Nghĩa ĐÒ ÁN TỐT NGHIỆP 3 Nhận thấy được sự hạn chế chức năng của tay thẩm mỹ, tay cơ ra đời với mong muốn hồ trợ thêm các chức năng giong tay thật như gập, duỗi khuỷu tay, mở lòng bàn tay, cầm đồ vật nhẹ.
Tay cơ chủ yếu sử dụng nguyên lý cơ học của bả vai để hoạt động cánh tay nên người sử dụng có thể sinh hoạt dễ dàng hơn. Tuy nhiên để có thể sử dụng thành thạo thì đòi hỏi nạn nhân phải có sự nồ lực tập luyện rất nhiều gây mất khá nhiều thời gian đe thích nghi, một số trường họp dề bị đau nhức vai do đeo tay cơ quá lâu. > Tay điện Hình 1. Hình minh họa tay điện Tay điện là loại tay giả phát triển nhất so với các loại tay khác, tay điện mang trên mình sứ mệnh to lớn, giúp cho các bệnh nhân khuyết tật có thể trở lại cuộc sống bình thường của mình như chưa hề có mất mác bộ phận nào trên cơ the.
Tay điện là sự phát triển kế thừa và phát huy của tay thẩm mỹ và tay cơ, kết họp cùng với sự phát triển của khoa học kỳ thuật hiện đại. Loại tay này được chế tạo tinh vi dựa trên một mô tơ và pin sạc điện được thiết kế đặt bên trong bàn tay. Sử dụng cảm biến sinh học đặt tại vị trí có tín hiệu cơ sinh học tốt, người sử dụng gồng/duồi cơ tay đế kích thích xung điện, tín hiệu xung điện sẽ gửi về bộ điều khiển bàn tay và yêu cầu cánh tay nắm mở. Ban đầu ở bên ngoài cánh tay người ta thường không trang bị lóp bảo vệ Silicone nên loại cánh tay này không được phép tiếp xúc với nước, về sau, người ta đã cải tiến nó và hiện nay đa số các loại tay Silicone điện đều có the tiếp xúc trực tiếp với nước [3].
SVTH: Lê Huỳnh Long GVHD: Th.s Nguyền Thị Huỳnh Lan Trân Văn Nghĩa ĐÒ ÁN TỐT NGHIỆP 4 Tóm lại: Cả ba loại cánh tay đều có mục đích chung là hồ trợ bệnh nhân khuyết tật không còn cảm thấy mặc cảm truớc xã hội, tự tin thể hiện bản thân mình, giúp cho các hoạt động cuộc sống dễ dàng hơn. Tuy nhiên tuỳ từng loại mà giá thành khác nhau, cần lựa chọn loại cánh tay phù hợp, đúng với mục đích. Trong đề tài này, nhóm sẽ dùng loại cánh tay thấm mỹ đế tiến hành đề tài nghiên cứu đà đề ra do đây là loại phổ biến, thông dụng tại các cơ sở đào tạo Y học, giá thành không quá cao và kết cấu sè không cầu kì, phức tạp nhu các loại cánh tay giả khác. Tổng quan về mô hình cánh tay Siiicone trên thói giói Phương pháp sử dụng mô hình mô phỏng bệnh nhân là phương pháp giảng dạy đã được sừ dụng rộng rãi ở các nước phát triển trên the giới, tại Hoa Kỳ, việc đưa mô hình vào trong giảng dạy đà trở nên phố biến ở tất cả các trường đào tạo Y dược.
Theo khảo sát của Chương trình đào tạo nội khoa của Trung tâm Y tế Đại học Duke ( Hoa Kỳ ) năm 2018, trong 107 sinh viên tình nguyện, có 63 sinh viên được đào tạo thực hành trên mô hình mô phỏng huyết áp thông qua cánh tay Silicone, số còn lại thì không sử dụng mô hình trong học tập. Kết quả sau kỳ thi, chỉ có 59% số sinh viên có thể vượt qua bài thi, cũng tức là 63 sinh viên đã được đào tạo thông qua mô hình mô phỏng cánh tay huyết áp. Người đứng đầu cuộc khảo sát đó đã chia sẻ rằng: “Sinh viên sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu như không được đào tạo lâm sàng thông qua mô phỏng bệnh nhân” [4]. Theo bài báo cáo “Đánh giá kỳ năng khám tim mạch cùa nhân viên y tế” của Tiến sĩ Stephen J.
Hunt (Đại học West of England) cùng các cộng sự tiến hành trong hai tháng, họ đã thu về các kết quả khác nhau. Bài đánh giá này chù yếu cho nhân viên y tế thực hành trên mô hình mô phỏng cánh tay huyết áp bệnh nhân nhằm đánh giá kỳ năng lâm sàng của các bác sĩ, y tá xem khả năng phản xạ của họ đến đâu. Ket quả có gần 59% trong tổng số 46 tình nguyện viên tham gia có thể phản hồi chính xác các trạng thái của bệnh nhân mô phỏng, 39% phản hoi tương đối gần đúng và 2% không phản hồi được nhịp mạch chính xác. Hunt cũng cho rằng việc các nhân viên y tế quá phụ thuộc vào các thiết bị đo đạc hiện đại đã ảnh hưởng rất nhiều đến kỳ năng lâm sàng của họ [5].
SVTH: Lê Huỳnh Long GVHD: Th.s Nguyền Thị Huỳnh Lan Trân Văn Nghĩa ĐÒ ÁN TỐT NGHIỆP 5 Tại Nhật Bản, chương trình đào tạo Y khoa kéo dài sáu năm và đen năm thứ năm cùa mồi khoá, sinh viên sẽ được học một khoá huấn luyện về kỳ năng lâm sàng thông qua thiết bị mô phỏng tim mạch là cánh tay huyết áp nhằm nâng cao khả năng chấn đoán lâm sàng của sinh viên. Tại trường Y khoa Đại học Tohoku trung bình mồi năm có khoảng 93 đến 117 sinh viên có đủ điều kiện đe tham gia khoá huấn luyện này. Sinh viên sè được chia thành các nhóm gồm 6 đến 8 người và chia thành các lớp khác nhau, sau đó sẽ được đào tạo trong ba giờ đồng ho về các phương pháp tiêm ngừa tiêu chuẩn, lấy máu tình mạch, khâu phầu thuật, đo và nghe âm thanh của huyết áp,. bằng thiết bị mô phỏng cánh tay huyết áp [6].
Ngoài ra sau khi học xong, sinh viên y khoa ở Nhật Bản phải vượt qua kỳ thi lâm sàng - Objective structured clinical examination (OSCE) do Tổ chức Kiểm tra Thành tích Chung, một hiệp hội hợp nhất vì lợi ích công cộng ở Nhật Bản tổ chức, thường là vào năm thứ năm của chương trình giáo dục y khoa đại học sáu năm [9], [ 10]. Một trong các kỳ năng và thái độ lâm sàng mà sinh viên y khoa phải đạt được là phản hồi được các thông số huyết áp trên mô hình cánh tay huyết áp đưa ra. Bắt buộc xác định được âm thứ hai (K-2) và sự tồn tại của âm thứ ba (K-3) và thứ tư (K-4) cũng như tiếng thối tâm thu và tâm trương [7], Theo một nghiên cứu được báo cáo gần đây của Tiến sĩ Yutaka Kagaya cùng các cộng sự (Đại học Tohoku) cho thấy, sinh viên được đào tạo thông qua mô hình mô phỏng từ năm nhất Đại học sẽ cho chất lượng tốt hơn so với những sinh viên được đào tạo mô hình mô phỏng từ năm thứ tư trở đi. Cụ thể trong báo cáo, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng ke từ năm 2010, khi mô hình cánh tay huyết áp được đưa vào sử dụng, nhà trường đà thay đối chương trình đào tạo, cho phép thực hành từ năm thứ nhất thay vì năm thứ tư như trước kia và nhóm nghiên cứu đã đối chiếu kết quả thi của sinh viên qua các năm và nhận thấy được số lượng sinh viên vượt qua chất lượng kiểm tra từ năm 2010 trở về trước luôn thấp hơn so với những năm về sau [8].
Sự phát triển của việc sản xuất tay Silicone phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới, tay Silicone được sản xuất với nhiều mầu mã khác nhau, đa dạng cả về mặt hình thức lần mặt chất lượng. Có rất nhiều hãng sản xuất mô hình cánh tay Silicone ở khắp nơi trên thế giới. Tại châu Âu, nước Đức với hãng Ottobock, khu vực Châu Á là Đài Loan với Teh Lin, Trung Quốc nổi bật là hãng Beijing Jingbo. SVTH: Lê Huỳnh Long GVHD: Th.s Nguyền Thị Huỳnh Lan Trân Văn Nghĩa ĐÒ ÁN TỐT NGHIỆP 6 Qua các nghiên cứu kể trên có thể nhận thấy rằng, trên thế giới đối với việc sử dụng cánh tay Silicone trong thực hành Y khoa đà có từ lâu, những mô hình đó không những có thể đo, nghe và nhìn thấy các thông số huyết áp mà còn có thể thực hiện các thao tác tiêm truyền tình mạch, lấy mầu máu xét nghiệm, khâu vết thương,.