Chương 1: Nhận thức chung về minh oan trong tố tụng hình sự Chương 2: Tình hình minh oan cho người bị oan trong tố tụng hình sự của nước ta trong thời gian qua Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc minh oan trong tố tụng hình sự. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ MINH OAN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về minh oan trong tố tụng hình sự. Khái niệm oan và minh oan trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, thuật ngữ “oan”, “sai”, “minh oan”, “người bị oan” được sử dụng nhiều trong lý luận cũng như thực tiễn pháp lý ở nước ta, nhất là từ khi có Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về Bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây gọi là Nghị quyết 388). Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành (BLTTHS) và Nghị quyết 388 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành đều không định nghĩa thế nào là “oan” , “sai”, “minh oan” và “người bị oan”; trong các sách chuyên khảo về tố tụng hình sự cũng không đề cập đến các khái niệm này. Để có thể hiểu và áp dụng đúng đắn chế định minh oan trong pháp luật tố tụng hình sự thì cần phải đưa ra khái niệm thế nào là “oan”, “minh oan” trong tố tụng: “Oan” trong tố tụng hình sự : Theo từ điển Tiếng Việt, “oan” là tính từ chỉ một người bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái. “Sai” là chỉ những sự việc không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi, không phù hợp với phép tắc, với những điều quy định.
Trong BLTTHS và Nghị quyết 388, “oan” “sai” không được định nghĩa nhưng thông qua việc sử dụng thuật ngữ này trong các điều luật cụ thể, những trường hợp được “khôi phục danh dự”, “bồi thường thiệt hại” thì có thể thấy, thuật ngữ “oan” thường đi liền với thuật ngữ “sai”; “oan, sai” được sử dụng rất rộng như oan, sai trong tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố, xét xử, kết tội và thi hành án hình sự. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chúng ta cần xem xét qua một số quy định sau: Điều 2 BLTTHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều 9: BLTTHS quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Dựa vào hai quy định nêu trên, có thể thấy, chỉ khi Toà án kết tội hay tuyên vô tội bằng một Bản án có hiệu lực pháp luật thì mới có thể khẳng định một người có phạm tội hay không, khi đó mới có hiện tượng kết tội đúng - tức là không oan, hay kết tội không đúng quy định pháp luật - tức là có oan - oan thì mới phải minh oan. Mặt khác, pháp luật tố tụng hình sự cho phép áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự cần thiết khi có căn cứ do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự một người. Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự - đây là các biện pháp về tố tụng hình sự, được áp dụng để tạo điều kiện cho Toà án ra phán quyết cuối cùng bằng một bản án kết tội hay tuyên vô tội tại phiên toà.
Theo đó, mới xuất hiện các trường hợp một người bị kết tội đúng hay kết tội sai - kết tội sai thì người bị kết tội mới được gọi là người bị oan. Do đó, dùng thuật ngữ “oan” chỉ riêng trong trường hợp Bản án tuyên vô tội có hiệu lực pháp luật của Toà án là chính xác nhất Tuy nhiên, các hoạt động tố tụng hình sự như điều tra, truy tố, tạm giữ, lấy lời khai, tạm giam chỉ là các biện pháp về tố tụng (hình thức) được áp dụng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự một người - đưa các quy định của luật nội dung là Bộ luật hình sự để so sánh, đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội, định tội danh, chuẩn bị cho hoạt động xét xử và ra phán quyết tại phiên toà. Khi người tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp đó trái (sai) quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, có thể sai về trình tự thủ tục hay về căn cứ áp dụng thì dẫn đến oan,sai trong tố tụng. Tại điều 224, khoản 3 BLTTHS: “Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Điều luật này nằm trong Phần thứ 3- xét xử sơ thẩm. Qua đó, có thể thấy pháp luật tố tụng hình sự thừa nhận việc minh oan cho ngƣời bị oan do các hành vi tố tụng trƣớc đó là khởi tố, điều tra, truy tố, cũng nhƣ việc bắt, tạm giữ, tạm giam là đã làm oan bị can. Theo những phân tích nêu trên có thể thấy rằng thuật ngữ oan, sai thƣờng đi liền nhau và đƣợc dùng chung cho các trƣờng hợp tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố, xét xử và kết tội, thi hành án sai. “Minh oan” trong tố tụng hình sự: Trong từ điển Tiếng Việt “Minh oan” là một từ Hán Việt có nghĩa là bày tỏ nỗi oan uổng, tức là cho người khác biết được nỗi oan uổng của mình.
Còn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, minh oan được dùng để chỉ hành động của cơ quan, người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự phải tiến hành các hoạt động như khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường thiệt hại cho người bị oan do đã gây thiệt hại cho họ trong khi tiến hành tố tụng. Trong từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp định nghĩa về minh oan như sau: “minh oan tức là khôi phục lại danh dự, quyền lợi và bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần; thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị oan chết hoặc bị tổn hại về sức khoẻ; trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản bị xâm hại hay thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất do người bị tạm giữ, tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ, tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và hoặc hành vi phạm tội”. 540] Nếu hiểu theo nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt, nội hàm của “minh oan” chỉ bao gồm duy nhất một nội dung là khôi phục danh dự cho người bị oan. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo định nghĩa của Từ điển luật học, minh oan bao gồm hai hình thức là khôi phục danh dự và bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp bị tạm giữ oan, tạm giam oan.
Định nghĩa không nói minh oan cho các trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử - kết tội oan. “Minh oan” theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết 388 bao gồm cả hai hình thức khôi phục danh dự, quyền lợi và Bồi thường thiệt hại cho người bị oan. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan, người tiến hành tố tụng xuất hiện vì các cơ quan, người tiến hành tố tụng này đã “sai” khi áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự vào việc xác định trách nhiệm hình sự đối với một người, gây ra các tổn thất về vật chất hay tinh thần cho người đó. Pháp luật tố tụng hình sự quy định dù là tổn thất về vật chất hay về tinh thần thì đều phải bồi thường thiệt hại cho người bị oan và bị tổn thất (thiệt hại) đó.
Bồi thường thiệt hại là biện pháp khắc phục một phần thiệt hại về vật chất hay tinh thần cho người bị oan, nhưng chỉ áp dụng khi người bị oan có yêu cầu. Theo tôi, "minh oan" cần được hiểu như sau: Minh oan là quyền của người bị oan được phục hồi danh dự, quyền lợi và bồi thường thiệt hại do đã bị tạm giữ oan, tạm giam oan, khởi tố, truy tố, xét xử - kết tội và thi hành án oan. Cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã gây oan có trách nhiệm phục hồi danh dự, quyền lợi và bồi thường thiệt hại cho người bị oan do đã tiến hành tố tụng sai quy định pháp luật đối với họ. Theo đó, người bị oan có quyền được yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng phải phục hồi danh dự và quyền lợi cho họ trước công luận, tức là xin lỗi, cải chính công khai cho hành vi của họ trước công luận là không vi phạm pháp luật, không phạm tội nhưng đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế về tố tụng như tạm giữ oan, tạm giam oan, khởi tố, truy tố, xét xử - kết tội và thi hành án 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com oan; quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về những tổn thất vật chất hay tinh thần do đã bị oan.
“Ngƣời bị oan” trong tố tụng hình sự: “Người bị oan” là một khái niệm chỉ đối tượng bị làm oan. Khái niệm này liên quan chặt chẽ với “oan”, “minh oan” trong tố tụng hình sự. Từ những lý giải trên về oan, sai, minh oan, có thể xác định người bị oan trong tố tụng hình sự bao gồm người bị thiệt hại về vật chất hay tinh thần hoặc cả vật chất và tinh thần do bị tạm giữ oan, tạm giam oan, bị khởi tố, truy tố, kết án oan và thi hành án oan. Ý nghĩa của việc minh oan trong tố tụng hình sự.
Minh oan trong tố tụng hình sự là việc làm hết sức cần thiết vì ý nghĩa của nó trên hai bình diện: Ý nghĩa pháp lý: Các hoạt động tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án do người có thẩm quyền tiến hành đối với người bị oan ở nhiều mức độ đã chứng tỏ sự liên quan của họ vào một hay nhiều tội phạm hình sự (khi bị khởi tố, điều tra, truy tố), hay đã phạm một hay nhiều tội phạm (khi bị xét xử và kết án).